Học sinh vùng cao: Quyết tâm vượt núi rừng và cái giá của khoảng cách
Học sinh vùng cao là những em sinh sống ở các xã miền núi, biên giới, vùng đồng bào dân tộc thiểu số, nơi địa hình chia cắt bởi núi cao, sông suối, khiến việc tiếp cận giáo dục trở thành hành trình gian nan mỗi ngày chứ không chỉ là chuyện đến trường đơn thuần. Chính từ những nơi cheo leo giữa núi rừng, các em mang theo ước mơ vượt khỏi lũy tre bản làng để bước vào một thế giới học tập rộng mở hơn, dù phải đánh đổi bằng việc xa gia đình, tự lập sớm và chấp nhận không ít rủi ro trên đường đến lớp.
Câu chuyện của Ly Mỹ Linh là một lát cắt tiêu biểu. Trước bình minh, em cùng bố mẹ rời xã Huồi Tú, vượt hàng trăm km tới Trường Văn hóa VI của lực lượng công an nhân dân để nhập học lớp 5. Đó không chỉ là chuyến đi dài, mà là bước ngoặt: một đứa trẻ vùng cao rời vòng tay cha mẹ để sống trong môi trường trường nội trú, mang theo ước mơ trở thành chiến sĩ công an. Phía sau nụ cười háo hức là nỗi lo của phụ huynh khi con còn nhỏ, lần đầu xa nhà, nhưng họ vẫn chọn ủng hộ vì hiểu rằng đây là tấm vé hiếm hoi giúp con tiếp cận giáo dục bài bản và kỷ luật hơn.

Trường nội trú: Lá chắn cho 700 học sinh khỏi đường xa, suối sâu
Nếu có một từ khóa cho tương lai giáo dục vùng cao, đó phải là trường nội trú. Khi hơn 700 học sinh từ các điểm trường lẻ giữa núi rừng Đakrông được đưa về học dưới mái trường Phổ thông nội trú liên cấp Tiểu học và THCS Đakrông, một chương mới đã mở ra: nỗi lo vượt đường xa, suối sâu trong mùa mưa lũ không còn là bóng đen che phủ cả năm học nữa. Đây không chỉ là sắp xếp kỹ thuật, mà là quyết định mang tính công bằng xã hội, đưa khoảng cách địa lý về gần bằng con số 0 cho hàng trăm em nhỏ.
Trước đây, Đakrông có 11 trường công lập; sau chủ trương sắp xếp mạng lưới trường lớp, địa phương tinh gọn còn 7 trường, trong đó trường nội trú liên cấp giữ vai trò hạt nhân. 12 lớp với 413 học sinh đã chuyển về cơ sở mới ngay sau lễ khai giảng, 405 em ăn ở nội trú; khoảng hai tháng nữa, toàn bộ học sinh ở các điểm trường lẻ sẽ về học tập tại đây. Trường hiện có 76 cán bộ, giáo viên và đã ban hành quy chế quản lý học sinh nội trú, bán trú, phân công giáo viên trực 24/24 để bảo đảm an toàn, chăm sóc học sinh trong cả giờ học lẫn sinh hoạt. Hệ quả rất cụ thể: các em không phải đối mặt khe suối, đường trơn dốc; phụ huynh không phải đưa đón hằng ngày, có thêm thời gian lao động sản xuất.

Giáo viên vùng cao: Vượt núi, học tiếng Mông và mang văn hóa bản vào lớp
Nếu học sinh vùng cao là những người leo núi đi tìm chữ, thì giáo viên vùng cao là những người leo hai lần: một lần để đến với học trò, một lần để đi vào tâm trí các em. Sau mỗi kỳ nghỉ hè, cô Ma Thị Bến – giáo viên Trường Phổ thông DTBT Tiểu học và THCS Cán Chu Phìn – lại lội bản, đến từng nhà vận động học sinh trở lại lớp. Đây không phải hoạt động phong trào, mà là phần tất yếu trong công việc suốt 14 năm gắn bó của cô với vùng Khâu Vai. Ở nhiều nơi, giáo viên còn phải cùng cán bộ thôn, bản, bộ đội biên phòng đi vận động sĩ số sau các kỳ nghỉ lễ, Tết để lớp học không bị vỡ.
Điều đáng nói là các thầy cô không dừng lại ở việc đưa học sinh trở lại trường, họ còn tái thiết ngôn ngữ trong lớp học. Cô Bến cùng đồng nghiệp chủ động học tiếng Mông, để nói được ngôn ngữ của học sinh, từ đó hiểu hoàn cảnh, tâm tư, phối hợp với gia đình hiệu quả hơn. Là giáo viên Ngữ văn, cô lồng ghép đời sống, văn hóa Mông – lễ hội, phong tục, nghề đan lát, dệt vải lanh – vào bài học và hoạt động ngoại khóa. Cách tiếp cận này không chỉ giúp học sinh tiếp cận giáo dục bằng chính nền văn hóa của mình, mà còn biến các em thành người giới thiệu, gìn giữ bản sắc trong gia đình, cộng đồng, góp phần xóa bỏ tập quán lạc hậu.

Sự đỡ đầu từ rừng và những ngôi trường đặc biệt
Giáo dục vùng cao sẽ mãi chỉ là khẩu hiệu nếu thiếu những cánh tay đỡ đầu cụ thể cho học sinh khó khăn. Ở đỉnh Hin Phang, gia đình H’Mông của Sung A Hu gắn bó với rừng, bảo vệ những cánh rừng chứa nhiều loại gỗ quý, đồng thời chống lại việc khai thác trái phép để giữ lấy mảnh đất sinh tồn của mình. Trong bối cảnh đó, Hu – cậu học trò được đánh giá là ngoan, chăm học – thi vào lớp 10 với 17 điểm và trở thành học sinh lớp 10C3 Trường THPT Mường Lát. Vấn đề lớn nhất không phải điểm số, mà là làm sao đi học khi nhà cách trường khoảng 30 km đường núi.
Câu trả lời đến từ chính lực lượng gắn với rừng. Hạt Kiểm lâm Mường Lát quyết định nhận đỡ đầu Hu, lo chỗ ăn ở và kèm cặp em trong suốt ba năm THPT. Ở đây, ta thấy một mô hình hỗ trợ học sinh khó khăn giàu ý nghĩa: đơn vị gắn bó với rừng nhận nuôi đứa trẻ lớn lên cùng rừng, để cả hai tiếp tục bảo vệ và gắn kết với nhau ở tầng sâu hơn. Song song đó, những ngôi trường văn hóa đặc biệt như Trường Văn hóa VI tuyển 270 học sinh trong năm học mới – 90 em lớp 5, 90 em lớp 6, 30 em mỗi khối 7, 8, 9 – từ 1.264 hồ sơ hợp lệ trên tổng 1.468 hồ sơ đăng ký, nhằm tạo môi trường học tập, rèn luyện cho học sinh vùng khó, vùng sâu, vùng đồng bào dân tộc thiểu số.

Khi cộng đồng cùng mở đường: Bài học từ Đakrông, Hin Phang đến Huồi Tú
Nhìn từ Đakrông, Hin Phang đến Huồi Tú, một kết luận hiện ra rất rõ: tiếp cận giáo dục ở vùng cao không thể chỉ giao cho ngành giáo dục. Đakrông đã chứng minh rằng sắp xếp mạng lưới trường lớp, xây dựng trường nội trú liên cấp, đặt mục tiêu đến năm 2030 có 80% trường đạt chuẩn quốc gia là lựa chọn mang tính cấu trúc, chứ không phải động tác kỹ thuật. Trường nội trú giải quyết bài toán khoảng cách; giáo viên vùng cao giải quyết bài toán ngôn ngữ và văn hóa; các chương trình đỡ đầu của kiểm lâm, tổ chức cộng đồng giải quyết bài toán chi phí sinh hoạt, nơi ăn chốn ở.
Nhưng chừng đó vẫn chưa đủ nếu chúng ta coi thành công của vài trăm, vài nghìn em là đã hoàn thành nhiệm vụ. Cần nhiều hơn những chính sách để nhân rộng mô hình trường nội trú, tăng biên chế và chế độ cho giáo viên vùng cao, khuyến khích các đơn vị kinh tế – xã hội nhận đỡ đầu học sinh khó khăn. Khi những em nhỏ phải rời bản tiếp tục nhận được sự đồng hành trên suốt hành trình học tập, câu chuyện vượt núi rừng đến trường mới thật sự là câu chuyện về cơ hội công bằng, chứ không chỉ là những bản tin xúc động mỗi mùa khai giảng.







