Khi khoa học nông thôn vẫn còn… đứng ngoài ruộng
Khoa học nông thôn là toàn bộ hệ thống tri thức, công nghệ và cách làm được phổ biến, chuyển giao và ứng dụng ngay trên địa bàn nông thôn để giải quyết các vấn đề sinh kế, sản xuất và nâng cao giá trị nông sản cho người dân một cách thiết thực, dễ hiểu và có thể áp dụng hàng ngày.
Điểm nghẽn lớn nhất của khoa học ở nông thôn hiện nay không phải thiếu kiến thức, mà là kiến thức không chạm đúng chỗ đau của người nông dân. Nhiều chương trình phổ biến kiến thức nông dân vẫn nặng tính hàn lâm, xa rời bài toán giống, mùa vụ, đầu ra nông sản. Không ít hoạt động coi việc mang sách, mang tài liệu về là đã xong nhiệm vụ, trong khi đa số lại không đáp ứng nhu cầu kiến thức thật sự của người làm nông nghiệp. Hệ quả là tri thức khoa học nằm lại trên giấy, còn ruộng đồng, chuồng trại vẫn vận hành theo kinh nghiệm cũ, rủi ro cao và phụ thuộc thương lái.
Theo định hướng phát triển khoa học, công nghệ và chuyển đổi số cấp trung ương, phổ biến kiến thức khoa học và công nghệ được xác định là nhiệm vụ chiến lược, gắn với mục tiêu nâng cao dân trí và xây dựng xã hội học tập. Nhưng nếu cách làm không đổi, khoa học sẽ tiếp tục đứng ngoài cuộc sống nông thôn – đúng lúc nông dân cần nó nhất để ứng phó thời tiết cực đoan, yêu cầu chất lượng và cạnh tranh ngày càng gay gắt trên thị trường.

Tri thức phải giải được bài toán sinh kế, không chỉ bài toán lý thuyết
Ở nông thôn, ưu tiên số một của người dân là kinh tế gia đình; vì vậy, việc đọc và tích lũy tri thức chỉ có ý nghĩa khi gắn chặt với cải thiện sinh kế. Tri thức khoa học không thể là chuyện xa xôi về công nghệ cao, mà phải trả lời được những câu hỏi rất cụ thể: trồng cây gì, nuôi con gì, phòng bệnh ra sao, bán cho ai, bằng cách nào để nâng cao giá trị nông sản.
Thực tế cho thấy các loại tài liệu, sách hướng dẫn kỹ năng nông nghiệp, ngư nghiệp, thủ công nghiệp phù hợp với đặc thù và nhu cầu địa phương luôn là những đầu sách được mượn nhiều nhất tại tủ sách nông thôn. Những nội dung “cầm tay chỉ việc” về chiết cành, lai giống, chăm sóc cây trồng, vật nuôi được săn đón hơn hẳn các ấn phẩm lý thuyết. Điều này chứng minh một điều đơn giản: khi tri thức gắn chặt với ứng dụng khoa học thực tế, người dân tự tìm đến, tự học và tự áp dụng.
Các nhà quản lý khoa học cấp địa phương cũng đã thẳng thắn yêu cầu phải chuyển từ phổ biến kiến thức hàn lâm sang cung cấp giải pháp ứng dụng thương mại cụ thể tại địa phương, tập trung vào các mô hình có tính khả thi, hiệu quả và đã được kiểm chứng về mặt khoa học, công nghệ. Nói cách khác, muốn phổ biến kiến thức nông dân hiệu quả thì mỗi buổi tập huấn, mỗi cuốn sách phải gắn được với một thay đổi trong năng suất, chất lượng hay đầu ra của nông sản – nếu không, đó chỉ là chi phí thời gian.

Khi sách và dữ liệu khoa học trở thành công cụ kiếm sống
Việc đưa sách về nông thôn, nếu làm đúng, không chỉ là chuyện văn hóa mà là chiến lược kinh tế. Theo một lãnh đạo ngành xuất bản, sách giúp nông dân phát triển kinh tế và thoát nghèo thông qua tiếp cận tri thức kỹ thuật sản xuất. Một chuyên gia khác khẳng định đưa sách về địa phương là bài toán phát triển con người, góp phần nâng cao năng lực cạnh tranh cho nông sản Việt. Đây là những nhận định cho thấy rõ: sách, nếu trúng nhu cầu, là một công cụ sản xuất như phân bón hay giống tốt.
Không ngẫu nhiên mà các sách kỹ năng nông nghiệp, ngư nghiệp, thủ công gắn với đặc thù địa phương được mượn nhiều nhất ở tủ sách nông thôn. Khi người dân nhìn thấy từ trang sách đến thửa ruộng của mình có một đường đi thẳng – không vòng vèo qua những khái niệm trừu tượng – họ sẵn sàng dành thời gian đọc, trao đổi và thử nghiệm. Từ đó, sách mang lại cả ích lợi tinh thần lẫn lợi ích hữu hình, đo được: cải thiện sinh kế và nâng cao năng lực sản xuất của nông dân.
Ở tầm chính sách, tiêu chí phát triển văn hóa, giáo dục, đào tạo nguồn nhân lực đã được đưa vào bộ 10 tiêu chí quốc gia về xã nông thôn mới giai đoạn 2026-2030. Đồng thời, một văn bản định hướng chia sẻ mục tiêu đến năm 2030 có 80% người dân đọc sách thường xuyên và thu hẹp khoảng cách tiếp cận tri thức giữa thành thị và nông thôn. Những mục tiêu này chỉ có sức sống khi mỗi trang sách và mỗi dòng dữ liệu khoa học đều có đường đi đến túi tiền và tương lai của từng hộ nông dân.

Muốn khoa học bền rễ ở nông thôn, phải có người “giữ lửa” tại chỗ
Khoa học không tự đi vào đời sống, nó cần những con người cụ thể dẫn đường. Nhiều tủ sách, không gian đọc ở nông thôn hoạt động kém hiệu quả không phải vì thiếu sách, mà vì thiếu người điều phối và tổ chức sinh hoạt. Khi không có ai đứng ra kết nối nhu cầu của bà con với nguồn tri thức, sách và tài liệu khoa học sẽ lặng lẽ phủ bụi.
Các sáng kiến hiện nay đã bắt đầu nhìn đúng vào “nút thắt con người”. Có dự án gợi ý tận dụng lực lượng giáo viên hưu trí tại địa phương làm lực lượng giữ lửa cho tủ sách cộng đồng, xây dựng lực lượng khuyến đọc tại chỗ. Đây chính là những “thủ lĩnh tri thức” nông thôn – những người hiểu ruộng đất, hiểu nhu cầu dân làng và đủ kiên nhẫn để chuyển hóa kiến thức thành hướng dẫn từng bước. Song song, xây dựng mạng lưới chuyên gia, giảng viên, nhà khoa học và kết nối với chuyên gia quốc tế cũng được coi là hướng đi để bổ sung nguồn lực chuyên môn cho địa phương.
“Mục tiêu là để nhà nông, người dân được nâng cao kiến thức, kỹ năng, tự tạo ra sản phẩm và bán được sản phẩm từ chính sự cần cù, sáng tạo và nền tảng tri thức mang lại; giúp người dân làm giàu trên chính quê hương mình.” Câu nói này đặt trách nhiệm rõ ràng lên vai các “người giữ lửa” ở cơ sở: nếu không có họ, khoa học sẽ mãi là câu chuyện của hội trường, không phải của sân phơi, vườn cây và trang trại.
Từ mô hình ứng dụng đến giá trị mới cho nông sản
Câu hỏi quyết định với mọi hoạt động phổ biến khoa học nông thôn là: mô hình nào ra được tiền cho nông dân? Các nhà quản lý khoa học đã nhấn mạnh phải lựa chọn nội dung cấp thiết và tập trung phổ biến những mô hình ứng dụng bảo đảm khả thi, hiệu quả, có cam kết và kiểm chứng khoa học – công nghệ. Nghĩa là mỗi lớp tập huấn, mỗi buổi chia sẻ phải gắn với một quy trình hoặc mô hình sản xuất cụ thể mà bà con có thể nhìn, sờ, tính toán được.
Khi mô hình ứng dụng khoa học thực tế tạo ra lợi ích kinh tế rõ ràng – như tăng năng suất, giảm chi phí, mở rộng kênh tiêu thụ – người dân không chỉ hiểu sâu hơn về khoa học, mà còn chủ động tìm kiếm thêm kiến thức. Đó là cách xây dựng xã hội học tập từ ruộng đồng lên, không phải từ khẩu hiệu xuống. Khi câu chuyện về sản phẩm và vùng đất được trình bày bài bản, tri thức trở thành năng lực cạnh tranh cốt lõi, góp phần nâng cao giá trị nông sản và định vị thương hiệu bền vững trên thị trường.
Vấn đề đặt ra cho giai đoạn tới, trong bối cảnh một nghị quyết mới về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số được ban hành, là phải dám “lật ngược” cách làm: không còn rải kiến thức, mà thiết kế chuỗi mô hình – đào tạo – dữ liệu – tiêu thụ xoay quanh từng sản phẩm chủ lực của mỗi vùng. Chỉ khi đó, khoa học mới thật sự gắn với đất, gắn với người và đứng về phía người nông dân trong cuộc cạnh tranh ngày càng khốc liệt.






