Lấn biển bước vào Luật Phát triển đô thị: Từ dự án đơn lẻ đến không gian lãnh thổ mới
Khung quản trị lấn biển Việt Nam là hệ thống quy định pháp luật, chính sách lấn biển và cơ chế quản lý đất lấn biển, môi trường lấn biển, lựa chọn nhà đầu tư cùng giám sát dài hạn, được tích hợp vào Luật Phát triển đô thị nhằm kiểm soát hoạt động tạo đảo nhân tạo, mở rộng từ bờ ra biển và hình thành các dự án khu đô thị lấn biển quy mô lớn trên phạm vi cả nước. Chiều 20-8, Ủy ban Thường vụ Quốc hội đã chính thức thống nhất chủ trương xây dựng cơ chế, chính sách đặc thù cho dự án khu đô thị lấn biển và đồng ý tích hợp nội dung này vào dự thảo Luật Phát triển đô thị để trình Quốc hội xem xét. Sáng 22-8, Quốc hội tiếp tục thảo luận tại hội trường về cơ chế, chính sách đối với các dự án này. Đây không còn là các dự án xây dựng đơn lẻ, mà là quyết định can thiệp trực tiếp vào cấu trúc vùng bờ, tạo ra không gian lãnh thổ mới cần được quản trị như một thực thể hành chính và kinh tế độc lập.

Đất lấn biển thuộc sở hữu Nhà nước: Tuyên bố chủ quyền trong không gian phát triển mới
Điểm mang tính bước ngoặt của khung pháp lý mới là nguyên tắc: toàn bộ diện tích đất mới hình thành từ hoạt động lấn biển mặc nhiên thuộc sở hữu Nhà nước. Đây là câu trả lời rõ ràng cho nỗi lo lấn biển trở thành “cuộc chơi quyền lực” của một số nhà đầu tư bất động sản. Chủ tịch Quốc hội đã cảnh báo phải kiểm soát cực kỳ nghiêm ngặt hoạt động lấn biển và “tuyệt đối không để tư nhân lũng đoạn”. Nguyên tắc sở hữu công này tạo nền tảng để Nhà nước quyết định quy hoạch, phân khu chức năng, tổ chức dân cư, chứ không để chủ đầu tư chi phối toàn bộ không gian mới. Tuy vậy, quyền sử dụng đất, hình thức giao, cho thuê, đấu giá và thời hạn khai thác sẽ là những điểm nóng tiếp theo, bởi nếu thiết kế ưu đãi thiếu ràng buộc, rủi ro lợi ích nhóm vẫn có thể nảy sinh dưới vỏ bọc dự án khu đô thị lấn biển. Vấn đề không chỉ là ai sở hữu trên giấy, mà là ai thực sự kiểm soát giá trị sinh ra từ phần lãnh thổ mới này.

Dữ liệu quốc gia và giám sát liên vùng: Bài kiểm tra năng lực quản lý nhà nước
Nếu xem mỗi dự án khu đô thị lấn biển như một “ốc đảo riêng lẻ” thì quản trị sẽ thất bại. Các đại biểu đã đề xuất xây dựng hệ thống cơ sở dữ liệu quốc gia về dự án lấn biển, không chỉ để lưu trữ hồ sơ hành chính mà phải trở thành công cụ quản trị. Hệ thống này được yêu cầu tích hợp thông tin vị trí, ranh giới, diện tích, chức năng sử dụng, nhà đầu tư, tiến độ, nguồn vật liệu san lấp, đánh giá tác động môi trường, số liệu quan trắc, diễn biến sụt lún, xói lở, bồi tụ và việc thực hiện nghĩa vụ của nhà đầu tư. Khi dữ liệu được cập nhật thống nhất, cơ quan quản lý mới có thể đánh giá tác động cộng dồn của nhiều dự án lên cả dải bờ biển và kịp thời điều chỉnh chính sách. Vấn đề quan trọng là sau 10-20 năm, tổng thể đường bờ, hệ sinh thái và không gian phát triển của cả vùng sẽ biến đổi như thế nào. Nếu cơ sở dữ liệu không vận hành như một “bộ não chiến lược”, chúng ta sẽ chỉ chạy theo xử lý sự cố thay vì quản lý từ sớm.

Môi trường lấn biển và trách nhiệm tài chính dài hạn: Không thể chỉ ràng buộc bằng câu chữ
Lấn biển Việt Nam không thể được nhìn đơn thuần như cách tạo thêm đất để xây nhà. Đó là sự can thiệp trực tiếp vào địa chất, thủy văn, hải văn, dòng chảy, bùn cát và hệ sinh thái biển – ven biển. Điều 18a của dự thảo đã bổ sung yêu cầu đánh giá các nhóm thông tin này, một bước tiến đáng ghi nhận. Tuy vậy, nhiều đại biểu cho rằng trách nhiệm nhà đầu tư vẫn mới dừng ở nghĩa vụ hành vi, chưa có công cụ tài chính bảo đảm thực hiện suốt vòng đời dự án, vốn có thể lên tới 70 năm. Các rủi ro xói lở, sụt lún, sự cố môi trường có thể phát sinh sau nhiều thập kỷ, khi nhà đầu tư ban đầu đã chuyển nhượng phần lớn dự án. Đề xuất về ký quỹ phục hồi môi trường biển, nguồn thu để chống xói lở và cơ chế xử lý tài sản khi dự án kết thúc thực chất là yêu cầu “gắn tiền với trách nhiệm”. Nếu luật chỉ quy định nghĩa vụ mà không cài đặt các thiết chế tài chính cụ thể, rủi ro sẽ mặc nhiên chuyển sang cho cộng đồng ven biển và ngân sách nhà nước.

Gắn với Luật Biển, quy hoạch và quyền lợi người dân: Khung pháp lý có đủ tầm nhìn dài hạn?
Lấn biển để mở rộng không gian phát triển được các đại biểu đánh giá là yêu cầu thực tiễn của đất nước và phù hợp với tinh thần Nghị quyết số 20-NQ/TW. Những dự án khu đô thị lấn biển, cả hình thức mở rộng từ bờ theo Luật Đất đai, lẫn hình thành đảo nhân tạo theo dự thảo Luật Phát triển đô thị, đều phải phù hợp với Công ước Liên hợp quốc về Luật Biển 1982. Điều này đặt Việt Nam vào một trật tự pháp lý quốc tế rõ ràng, vừa bảo đảm chủ quyền, vừa tránh tranh chấp với các bên liên quan. Nhưng khung pháp lý sẽ chỉ có ý nghĩa nếu gắn được ba tầng: tuân thủ quy hoạch trong nước, tương thích Luật Biển quốc tế, và cải thiện chất lượng sống của người dân ven biển. Theo quan điểm của các lãnh đạo Quốc hội, hiệu quả dự án lấn biển không thể đo bằng diện tích đất hay giá trị bất động sản, mà phải đo bằng khả năng hình thành cực tăng trưởng mới, hệ sinh thái kinh tế – dịch vụ và quản lý lâu dài phần lãnh thổ mới. Kết luận hợp lý lúc này là: Việt Nam cần lấn biển để phát triển, nhưng càng đặc thù, càng ưu đãi thì càng phải siết chặt thẩm quyền, trách nhiệm và giám sát ngay trong luật.






