Chiến lược văn hóa đối ngoại và tham vọng trung tâm sáng tạo

Chiến lược văn hóa đối ngoại và tham vọng trung tâm sáng tạo
Sở thích|Đông Nam Á

Văn hóa đối ngoại thời kinh tế số: chiến lược không chỉ là giao lưu

Chiến lược văn hóa đối ngoại là định hướng tổng thể việc đưa văn hóa, con người và câu chuyện phát triển của một quốc gia ra thế giới, gắn giao lưu, hợp tác với mục tiêu củng cố vị thế, gây dựng niềm tin và tạo thêm không gian, nguồn lực cho phát triển trong nước, thay vì chỉ dừng ở các hoạt động biểu diễn hay giới thiệu hình ảnh mang tính lễ nghi. Ở Việt Nam, chiến lược văn hóa đối ngoại mới đang được đặt vào đúng bối cảnh chuyển đổi mô hình phát triển, khi văn hóa được nhìn nhận là nền tảng, là nguồn lực nội sinh và là sức mạnh mềm quốc gia. Điều này khiến câu chuyện ngoại giao văn hóa bước sang một giai đoạn khác: lấy kinh tế số Việt Nam làm hạ tầng, lấy xã hội số làm không gian, và đặt mục tiêu trở thành trung tâm sáng tạo khu vực chứ không chỉ là điểm đến văn hóa.

Chiến lược văn hóa đối ngoại và tham vọng trung tâm sáng tạo

Từ Nghị quyết 19-NQ/TW đến tầm nhìn trung tâm sáng tạo khu vực

Điểm đáng chú ý là chiến lược văn hóa đối ngoại được thiết kế không tách rời Nghị quyết số 19-NQ/TW về đổi mới mô hình phát triển do Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm ký ban hành. Nghị quyết này xác định khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số và trí tuệ nhân tạo quốc gia là động lực chính của mô hình phát triển mới. Đồng thời, văn hóa và con người được khẳng định là nền tảng, là động lực nội sinh và sức mạnh mềm quốc gia. Khi ghép hai trụ cột ấy lại, tầm nhìn đến năm 2045 trở nên nhất quán: Việt Nam trở thành một trong những trung tâm văn hóa và sáng tạo hàng đầu của khu vực, xây dựng sức mạnh mềm văn hóa trên nền tảng kinh tế số và xã hội số vững chắc. Đây không chỉ là tham vọng biểu tượng, mà là cách đặt văn hóa vào tâm điểm của mô hình phát triển tự cường, sáng tạo, nhân văn và bền vững.

Chiến lược văn hóa đối ngoại và tham vọng trung tâm sáng tạo

Giai đoạn 2026-2030: mở rộng hợp tác văn hóa trên nền công nghiệp số

Giai đoạn 2026-2030 được chiến lược văn hóa đối ngoại xác định là thời kỳ mở rộng và nâng cao hiệu quả hợp tác quốc tế về văn hóa với quốc gia, vùng lãnh thổ, tổ chức, cơ quan văn hóa và các tập đoàn kinh tế, công nghiệp văn hóa trong khu vực và thế giới. Trọng tâm không phải mọi lĩnh vực, mà là những lĩnh vực thế mạnh như điện ảnh, nghệ thuật biểu diễn, du lịch văn hóa, di sản. Nếu tiếp tục làm văn hóa theo cách cũ, đây sẽ chỉ là danh sách ưu tiên. Nhưng trong bối cảnh kinh tế số Việt Nam đang được thúc đẩy như động lực phát triển, những ngành đó là mảnh đất cho nền tảng số, dữ liệu và công nghệ nội dung. Sức mạnh mềm văn hóa, nếu không gắn với công nghiệp văn hóa và hạ tầng số, sẽ khó trở thành năng lực cạnh tranh thực sự. Ngược lại, khi sản phẩm văn hóa được thiết kế để đi ra thế giới qua nền tảng số, chiến lược văn hóa đối ngoại mới có thể tạo xung lực phát triển cho cả kinh tế sáng tạo trong nước.

Chiến lược văn hóa đối ngoại và tham vọng trung tâm sáng tạo

Sức mạnh mềm văn hóa thời số hóa: từ thông điệp "Việt Nam muốn làm bạn" đến dữ liệu và sự kiện

Ngay từ năm 1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã gửi tới thế giới thông điệp "Việt Nam muốn làm bạn với tất cả các nước dân chủ và không gây thù oán với một ai". Ngày nay, thông điệp ấy không chỉ được nhắc lại bằng ngoại giao chính trị, mà còn phải được chuyển dịch thành sức mạnh mềm văn hóa có thể đo lường trong không gian số. Nghị quyết 19-NQ/TW yêu cầu quản trị quốc gia dựa trên dữ liệu, phản ứng chính sách và đo lường bằng kết quả, tác động phát triển. Nếu ngoại giao văn hóa vẫn chỉ dựa vào cảm tính, vào số lượng chương trình giao lưu, Việt Nam sẽ khó khẳng định vị thế quốc gia có năng lực và uy tín trong điều hành, tổ chức sự kiện khu vực và quốc tế, chủ động tham gia định hình xu thế phát triển văn hóa thế giới. Cần coi dữ liệu về tiếp cận nội dung, mức độ tương tác, niềm tin và thiện cảm của công chúng quốc tế như thước đo mới của sức mạnh mềm văn hóa.

Ngoại giao văn hóa phải đi trước một bước trong không gian số

Đảng đã đặt công tác đối ngoại vào vị trí “trọng yếu, thường xuyên”, yêu cầu đối ngoại đi trước một bước, góp phần giữ nước từ sớm, từ xa, mở thêm không gian, nguồn lực và cơ hội phát triển. Điều đó đặt trách nhiệm nặng nề lên chiến lược văn hóa đối ngoại: không thể chỉ chạy theo sự kiện, mà phải chủ động tạo nội dung, không gian sáng tạo và hệ sinh thái kinh tế số hỗ trợ. Hơn nữa, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm nhấn mạnh cán bộ là nhân tố quyết định chất lượng tổ chức thực hiện nghị quyết. Nếu đội ngũ làm văn hóa đối ngoại thiếu năng lực số, ngại đổi mới, tham vọng trở thành trung tâm sáng tạo khu vực sẽ dừng lại trên văn bản. Ngược lại, khi những chuyến thăm cấp Nhà nước, như chuyến thăm Australia và New Zealand từ ngày 9 đến 14/8/2026, gắn liền với các chương trình hợp tác công nghiệp văn hóa, kinh tế số và sáng tạo, ngoại giao văn hóa sẽ thực sự đi trước một bước, mở đường cho sản phẩm, dịch vụ và hình ảnh Việt Nam thâm nhập sâu hơn vào mạng lưới khu vực.

Sammfy nhận hoa hồng khi bạn mua sắm qua liên kết của chúng tôi, bạn không phải trả thêm chi phí.

You May Also Like

Comments
Viết gì đó...
Chưa có bình luận nào. Hãy là người đầu tiên chia sẻ suy nghĩ!