Áp lực tăng trưởng buộc phải mở rộng lựa chọn
Hydrogen sạch là hydrogen được sản xuất bằng quy trình phát thải thấp, còn điện hạt nhân tạo điện từ phản ứng phân hạch; cả hai đang được xem xét như những hướng bổ sung cho cơ cấu năng lượng ít carbon của Việt Nam. Nhu cầu tăng nhanh khiến việc đa dạng nguồn điện không còn là lựa chọn xa xôi: giai đoạn 2016–2025, điện thương phẩm tăng bình quân 7,6% mỗi năm, còn công suất cực đại tăng 6,9%. Đà tăng ấy gắn với công nghiệp hóa, chuyển đổi số, trung tâm dữ liệu, trí tuệ nhân tạo và giao thông điện hóa. Với người dân, sức ép thể hiện ở câu hỏi thiết thực: liệu hệ thống có đủ điện ổn định khi nhu cầu sinh hoạt, sản xuất và dịch vụ cùng tăng? Năng lượng tái tạo đã mở rộng nguồn cung, nhưng càng dựa vào gió và mặt trời, lưới truyền tải, lưu trữ và điều độ càng phải theo kịp. Vì vậy, Việt Nam cần thêm lựa chọn, chứ không thể trông chờ một công nghệ đơn lẻ.
Hydrogen sạch có tiềm năng, nhưng cần người mua và hạ tầng
Hydrogen sạch đáng được nghiên cứu vì có thể giảm phát thải ở các ngành dùng nhiều năng lượng, nơi điện khí hóa trực tiếp không phải lúc nào cũng thuận lợi. Nhưng tiềm năng không đồng nghĩa với nguồn điện sẵn sàng: hydrogen trước hết là chất mang năng lượng cần sản xuất, lưu trữ, vận chuyển rồi mới đưa tới nơi sử dụng. Nếu thiếu khách hàng và hạ tầng, dự án có nguy cơ tạo ra công suất trên giấy mà không hình thành được thị trường. Bởi vậy, chính sách nên bắt đầu từ nhu cầu cụ thể, tiêu chuẩn và chứng nhận rõ ràng, cùng cơ chế hợp đồng dài hạn để phân bổ rủi ro. Đây không phải con đường thay thế ngay điện gió hay điện mặt trời, mà là một mắt xích có thể giúp giảm phát thải trong những lĩnh vực khó chuyển đổi. Đầu tư theo từng bước, gắn với đầu ra thực tế, thuyết phục hơn việc chạy theo quy mô khi chuỗi cung ứng còn chưa hoàn chỉnh.
EVN tìm hiểu lò phản ứng mô-đun nhỏ
Điện hạt nhân được quan tâm vì có thể cung cấp điện ổn định trong dài hạn, bổ trợ cho hệ thống có tỷ trọng năng lượng tái tạo ngày càng cao. Trong bối cảnh đó, EVN đang tìm hiểu công nghệ lò phản ứng mô-đun nhỏ (SMR), vốn được nghiên cứu nhờ khả năng triển khai theo quy mô và mục đích sử dụng linh hoạt hơn so với nhà máy lớn. Phó tổng giám đốc EVN Nguyễn Tài Anh đã làm việc với đoàn công tác do Kirsten Cutler, chiến lược gia về đổi mới hạt nhân thuộc Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ, dẫn đầu để trao đổi về công nghệ và hợp tác quốc tế[. SMR có thể được xem xét cho hệ thống điện, khu công nghiệp và trung tâm dữ liệu, nhưng khả năng ứng dụng không đồng nghĩa đã sẵn sàng thương mại hóa rộng rãi. Hai bên dự kiến tiếp tục chia sẻ kinh nghiệm, nhất là về an toàn, hiệu quả kinh tế và thực tiễn triển khai. Đây là giai đoạn tìm hiểu, không phải quyết định đầu tư.
Thử nghiệm bằng tiêu chí đóng góp thực tế
Lộ trình điện hạt nhân trước mắt tập trung vào Ninh Thuận 1 và Ninh Thuận 2, dự kiến dùng lò nước nhẹ tiên tiến thế hệ III+ với công suất khoảng 1.000–1.200 MWe. Song song, Việt Nam cần nghiên cứu SMR, hợp tác với đối tác thiết kế và xây dựng năng lực nghiên cứu trong nước. Tuy nhiên, kinh nghiệm quốc tế cho thấy SMR vẫn đang trong quá trình phát triển và thương mại hóa; lựa chọn công nghệ vì thế phải dựa trên tính khả thi, an toàn, chi phí đầu tư và khả năng vận hành lâu dài. Cùng nguyên tắc ấy, hydrogen sạch chỉ nên được mở rộng khi đã xác định được nơi tiêu thụ và phương án hạ tầng. Các công nghệ mới không thể được đánh giá chỉ bằng lời hứa về phát thải thấp hay tính linh hoạt. Chúng cần chứng minh có thể bổ sung điện đúng lúc, vận hành đáng tin cậy và phù hợp với năng lực của hệ thống. Việt Nam cần đa dạng nguồn điện, nhưng đa dạng hóa phải đi cùng thẩm định nghiêm túc và kế hoạch thực hiện.






