Tăng trưởng 10% Việt Nam: Mục tiêu tham vọng nhưng không thể trì hoãn
Tăng trưởng 10% Việt Nam giai đoạn 2026-2030 là mục tiêu tăng GDP bình quân hằng năm ở mức hai con số, gắn với chuyển đổi mô hình phát triển sang công nghiệp hiện đại, nâng cao năng suất và chất lượng sống, đồng thời đưa quy mô nền kinh tế tiến gần nhóm 30 nền kinh tế lớn nhất thế giới. Trung ương đã đặt mục tiêu tăng trưởng từ 10%/năm trong giai đoạn 2026-2030, hướng tới đưa Việt Nam vào nhóm 30 nền kinh tế lớn nhất thế giới và trở thành nước có công nghiệp hiện đại, thu nhập trung bình cao. Ngày 2/4, Tổng Bí thư Tô Lâm ký ban hành Kết luận Hội nghị lần thứ 2 Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa 14 về kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội và tài chính quốc gia giai đoạn 2026-2030.
Đây không phải một con số trang trí, mà là lựa chọn chiến lược: hoặc bứt phá, hoặc chấp nhận tụt hậu. Giai đoạn 2021-2025, tăng trưởng bình quân khoảng 6,2%/năm, năm 2025 đạt 8,02%, giúp GDP bình quân đầu người đạt khoảng 5.026 USD, đưa Việt Nam vào nhóm nước có thu nhập trung bình cao. Nhưng nền tảng vĩ mô vẫn chưa thực sự vững, năng suất thấp, đổi mới sáng tạo đóng góp còn ít, thể chế và khả năng huy động nguồn lực vẫn nhiều điểm nghẽn. Nếu tiếp tục đi theo quán tính, mục tiêu vào nhóm 30 nền kinh tế lớn nhất đơn giản là bất khả.

Vì sao phải đi tắt đón đầu, không thể phát triển tuần tự
Cốt lõi của chiến lược phát triển 2026-2030 là từ bỏ tư duy phát triển tuần tự, chuyển sang đi tắt đón đầu. Các chuyên gia kinh tế nhấn mạnh Việt Nam cần đi tắt, đón đầu thay vì phát triển tuần tự. Trước đây, khuyến nghị phổ biến là đi từ đầu tư, đến ứng dụng, rồi lan tỏa công nghệ và sau đó mới đổi mới sáng tạo. Nhưng với một nền kinh tế phải tăng trưởng hai con số trong khi kinh tế thế giới dự báo chỉ khoảng 3%/năm, mô hình tuyến tính đó đã lỗi thời.
Thay vào đó, Việt Nam cần tiếp cận đồng thời cả đầu tư, ứng dụng và đổi mới công nghệ. Quan trọng hơn, phải chuyển từ mô hình dựa nhiều vào vốn và lao động sang dựa vào năng suất các nhân tố tổng hợp (TFP). Đây là thay đổi mang tính cấu trúc, không chỉ điều chỉnh mức độ đầu tư mà là đổi cách tạo ra giá trị. Nếu không, tăng trưởng 10% Việt Nam sẽ đồng nghĩa với khai thác kiệt quệ tài nguyên, lao động giá rẻ và hạ tầng quá tải – con đường chắc chắn dẫn đến bẫy thu nhập trung bình.

Năm trụ cột cải cách để vào nhóm 30 nền kinh tế lớn nhất
Để hiện thực hóa mục tiêu thuộc nhóm 30 nền kinh tế có quy mô GDP lớn nhất thế giới và trở thành nước đang phát triển có công nghiệp hiện đại, thu nhập trung bình cao, Việt Nam phải đi từ khẩu hiệu sang cải cách cụ thể. Theo phân tích dựa trên khuyến nghị quốc tế, muốn nâng TFP cần tập trung vào 5 nhóm nhân tố: khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số; đổi mới giáo dục và đào tạo; nâng cao hiệu quả thị trường; phát triển hạ tầng; và cải cách thể chế, nhất là khâu thực thi.
Ở cấp thể chế, Trung ương xác định phải hoàn thiện đồng bộ thể chế phát triển, tháo gỡ điểm nghẽn, đẩy mạnh phân cấp, phân quyền đi đôi với cải cách thủ tục hành chính, tăng hiệu lực thực thi và giám sát. Phương thức quản lý cần chuyển mạnh từ tiền kiểm sang hậu kiểm, từ "tốt trong văn bản" sang "tốt trong cuộc sống". Mục tiêu môi trường đầu tư vào nhóm 3 nước dẫn đầu ASEAN và nhóm 30 quốc gia hàng đầu thế giới vào năm 2028 không chỉ là xếp hạng, mà là điều kiện để thu hút công nghệ, vốn dài hạn và doanh nghiệp chất lượng cao.

Hạ tầng, thị trường và người dân: thước đo chất lượng tăng trưởng
Tăng trưởng 10% chỉ có ý nghĩa nếu người dân cảm nhận được trong đời sống hằng ngày. Thị trường trong nước được xác định là điểm tựa quan trọng cho tăng trưởng, đi cùng các chương trình kích cầu tiêu dùng quy mô lớn và hiệu quả; đồng thời đa dạng hóa thị trường xuất khẩu, chuỗi cung ứng và kênh dẫn vốn. Đến năm 2030, cả nước phấn đấu đưa vào sử dụng trên 5.000 km đường bộ cao tốc, đồng thời tập trung đầu tư đường sắt tốc độ cao Bắc - Nam, đường sắt đô thị, cảng biển, cảng hàng không và hạ tầng số đồng bộ. Đây là nền tảng để doanh nghiệp giảm chi phí, người dân hưởng dịch vụ tốt hơn.
Nguồn nhân lực sẽ được nâng cao thông qua đổi mới giáo dục, phát triển đào tạo nghề, tăng cường năng lực ngoại ngữ và từng bước đưa tiếng Anh trở thành ngôn ngữ thứ hai trong trường học. Với người dân, điều quan trọng không chỉ là thu nhập tăng, mà còn là môi trường sống sạch hơn, giao thông thông thoáng, y tế và giáo dục chất lượng hơn. Nếu khai thác tốt các động lực tăng trưởng mới ngay từ năm 2026, GDP có thể tăng thêm 2,8 - 3,7 điểm phần trăm mỗi năm – nhưng con số này phải đi kèm cải thiện thực chất đời sống, nếu không mục tiêu phát triển bao trùm sẽ bị rỗng.
Điều kiện để chiến lược phát triển 2026-2030 không chỉ nằm trên giấy
Hội nghị Trung ương 2 khóa 14 đã tạo khung chiến lược phát triển 2026-2030 với mục tiêu tăng trưởng hai con số gắn với ổn định vĩ mô. Nhưng chiến lược, dù hay đến đâu, cũng có thể bị bào mòn bởi trì trệ trong thực thi. Bối cảnh quốc tế 2026-2030 là tăng trưởng thế giới chậm lại, thương mại và đầu tư toàn cầu tăng chậm, trong khi xung đột địa chính trị, lạm phát, nợ công, an ninh năng lượng và biến đổi khí hậu đều gia tăng. Đó là môi trường cạnh tranh khốc liệt, nơi ai chậm cải cách sẽ mất cơ hội.
Theo các nhà kinh tế, mục tiêu tăng trưởng GDP bình quân từ 10% trở lên phải gắn với chỉ tiêu về chất lượng và tính bền vững của nền kinh tế, đồng nghĩa với những cải cách cấu trúc sâu sắc về thể chế và đầu tư công nghệ. Nếu khai thác tốt dư địa chính sách, cơ cấu dân số vàng kéo dài đến hết năm 2037 và các xu hướng dịch chuyển chuỗi cung ứng, chuyển đổi số, chuyển đổi xanh, Việt Nam có cơ hội thực sự để bứt phá. Ngược lại, nếu để điểm nghẽn thể chế, hạ tầng yếu và giáo dục lạc hậu kéo dài, mục tiêu tăng trưởng 10% và công nghiệp hiện đại sẽ chỉ là khẩu hiệu đẹp trên giấy.







