Khám phá sở thích, cùng nhau

Deal thật, đánh giá chân thực và câu chuyện mua sắm từ những người cùng sở thích với bạn — mỗi ngày trên Sammfy.

Khám phá sở thích, cùng nhauDeal thật, đánh giá chân thực và câu chuyện mua sắm từ những người cùng sở thích với bạn — mỗi ngày trên Sammfy.

Từ phòng thí nghiệm đến thị trường: Bài toán công nghệ sinh học thương mại

Từ phòng thí nghiệm đến thị trường: Bài toán công nghệ sinh học thương mại
Sở thích|Phổ biến khoa học chuyên gia

Công nghệ sinh học thương mại là gì và vì sao Việt Nam phải chuyển trạng thái?

Công nghệ sinh học thương mại là quá trình chuyển đổi những kết quả nghiên cứu sinh học trong phòng thí nghiệm thành sản phẩm, dịch vụ và doanh nghiệp có khả năng cạnh tranh trên thị trường, tạo ra giá trị kinh tế song song với giá trị khoa học, đồng thời giải quyết những vấn đề lớn về sức khỏe, nông nghiệp, môi trường và biến đổi khí hậu của xã hội hiện đại. Trong ba năm thực hiện Nghị quyết 36 về phát triển và ứng dụng công nghệ sinh học, Huế đã có những chuyển động đáng chú ý trong bảo tồn nguồn gen bản địa, nông nghiệp hữu cơ, xử lý môi trường, công nghệ gen và y học chính xác. Nhưng khi đặt câu hỏi “bao nhiêu công nghệ trở thành sản phẩm, bao nhiêu sản phẩm đứng được trên thị trường, bao nhiêu doanh nghiệp được hình thành từ thành quả nghiên cứu?” thì câu trả lời vẫn còn khiêm tốn. Điều này không chỉ là câu chuyện của Huế mà là bài toán chung cho chiến lược chuyển đổi từ nghiên cứu sang sản phẩm của Việt Nam.

2020-2025: Giai đoạn dựng nền, 2025-2030: Phải là giai đoạn lập ngành

Nhìn từ Huế, giai đoạn vừa qua về cơ bản là thời kỳ tạo nền cho một hệ sinh thái khoa học công nghệ mới. Viện Công nghệ sinh học thuộc Đại học Huế trong giai đoạn 2021-2025 đã chủ trì 4 đề tài cấp quốc gia, 9 đề tài cấp Bộ Giáo dục và Đào tạo, một chương trình khoa học – công nghệ, 5 đề tài, dự án cấp thành phố cùng nhiều nhiệm vụ cấp Đại học Huế. Đồng thời, Viện đào tạo 8 tiến sĩ chuyên ngành Sinh học giai đoạn 2023-2026, công bố 194 bài báo (132 bài quốc tế), có 4 nhóm nghiên cứu mạnh và một nhóm tiêu biểu, đăng ký một sáng chế, 2 giải pháp hữu ích, 2 nhãn hiệu hàng hóa và chuyển giao hơn 7 quy trình. Một báo cáo cấp thành phố cho biết riêng giai đoạn 2023-2026 đã nghiệm thu 14/15 nhiệm vụ khoa học và công nghệ cấp thành phố về công nghệ sinh học với tổng kinh phí hơn 29 tỷ đồng, trong đó ngân sách gần 25,7 tỷ đồng. Đó là nền móng nghiên cứu đáng kể. Nhưng chính quyền Huế đã nói rõ hướng đi tiếp theo: nếu ba năm qua chủ yếu là tạo nền tảng, thì từ nay đến 2030 phải là thời kỳ rút ngắn khoảng cách từ phòng thí nghiệm đến thị trường, từ kết quả nghiên cứu đến sản phẩm, từ tiềm lực khoa học đến một ngành kinh tế đóng góp thực sự cho tăng trưởng địa phương. Nghịch lý hiện nay là kết quả nghiên cứu khá phong phú nhưng chuyển giao và thương mại hóa chưa tương xứng. Lý do không nằm ở thiếu đề tài mà ở chỗ hệ thống chưa thiết kế để đo bằng số lượng sản phẩm, doanh nghiệp và doanh thu.

Công nghệ sinh học – trụ cột trong kỷ nguyên số và khí hậu biến đổi

Công nghệ sinh học không còn là lĩnh vực bên lề mà ngày càng được coi là trụ cột quan trọng trong định hướng phát triển khoa học – công nghệ, đặc biệt trong bối cảnh chuyển đổi số và biến đổi khí hậu diễn biến phức tạp. Nhận thức này đang dần được thể chế hóa. Tại một sự kiện trình diễn và kết nối công nghệ với chuyên đề về công nghệ sinh học trong kỷ nguyên số và biến đổi khí hậu ngày 25/9, lãnh đạo ngành khoa học – công nghệ TP Hồ Chí Minh nhấn mạnh tầm quan trọng của việc đưa các giải pháp xanh, bền vững vào sản xuất. Thành phố cũng đã ban hành Quyết định 2949/QĐ-UBND phê duyệt Kế hoạch triển khai Đề án phát triển công nghiệp sinh học ngành nông nghiệp đến năm 2030, coi đây là cơ sở để cụ thể hóa định hướng công nghệ sinh học bằng các mục tiêu và giải pháp phù hợp với đặc thù khu vực phía Nam. Sàn giao dịch công nghệ của thành phố tổ chức định kỳ các hoạt động kết nối cung – cầu công nghệ, tư vấn và hỗ trợ doanh nghiệp tiếp cận giải pháp phù hợp nhu cầu thực tiễn, trong đó có công nghệ sinh học. Sự kiện gần đây tập trung giới thiệu khoảng 40 công nghệ tiêu biểu, từ giải trình tự gene thế hệ mới, chọn giống di truyền thông minh đến vaccine DNA phòng bệnh thủy sản và blockchain truy xuất nguồn gốc sản phẩm. Mục tiêu không chỉ là trình diễn mà là mở ra cơ hội hợp tác nghiên cứu, chuyển giao và thương mại hóa công nghệ, góp phần phát triển công nghệ sinh học theo hướng xanh và bền vững.

Từ phòng thí nghiệm đến thị trường: Bài toán công nghệ sinh học thương mại

Nút thắt hệ sinh thái: khi viện, trường và doanh nghiệp vẫn đứng riêng rẽ

Khi nhìn vào Huế, có thể thấy địa phương này đã sở hữu một hệ sinh thái nghiên cứu mà không phải nơi nào cũng có: Đại học Huế với Viện Công nghệ sinh học, Trường Đại học Y – Dược, Nông Lâm, Khoa học; Bệnh viện Trung ương Huế cùng các cơ sở nghiên cứu, doanh nghiệp. Nhưng hệ sinh thái khoa học công nghệ chỉ thật sự tồn tại khi các thành phần kết nối được với nhau quanh những mục tiêu chung. Thực tế, liên kết doanh nghiệp với tổ chức nghiên cứu, cơ sở đào tạo vẫn chưa chặt chẽ; khả năng thương mại hóa và phát triển thị trường của một số kết quả nghiên cứu còn thấp. Nếu những điểm nghẽn này không được giải quyết, Huế rất dễ rơi vào tình trạng có những đơn vị nghiên cứu mạnh nhưng vẫn là các “ốc đảo khoa học”, chưa đủ sức tạo thành một hệ sinh thái công nghệ sinh học hoàn chỉnh. Mâu thuẫn này không riêng Huế. Tại TP Hồ Chí Minh, lãnh đạo ngành khoa học – công nghệ thẳng thắn nhìn nhận rằng nguồn lực khoa học, công nghệ của thành phố “rất mạnh, rất lớn nhưng đặt cạnh nhau thì chưa chắc đã kết hợp được với nhau” và vì vậy “phải có sự điều phối” để phát huy lợi thế chung. Đây chính là điểm yếu lớn nhất trong hành trình chuyển đổi từ nghiên cứu sang sản phẩm ở Việt Nam: nhiều tài năng, nhiều phòng thí nghiệm, nhưng chuỗi giá trị chưa đóng vòng với doanh nghiệp và thị trường.

Từ phòng thí nghiệm đến thị trường: Bài toán công nghệ sinh học thương mại

Chiến lược cho 5 năm tới: đặt bài toán đúng, kết nối đúng, đo lường bằng thị trường

Nếu giai đoạn 2020-2025 là thời kỳ dựng nền, giai đoạn 2025-2030 phải là thời kỳ lập ngành công nghệ sinh học thương mại – nghĩa là mọi chính sách, chương trình phải được thiết kế để đẻ ra sản phẩm, doanh nghiệp và thị trường cụ thể. Muốn vậy, điều cốt lõi là kết nối viện, trường, doanh nghiệp và cơ quan quản lý bằng những nhiệm vụ đủ rõ và có người chịu trách nhiệm đến cùng. Một nhiệm vụ nghiên cứu muốn đi vào thực tiễn phải bắt đầu từ nhu cầu, có dữ liệu triển khai và có đơn vị tiếp nhận kết quả. Điều này buộc cơ chế tài trợ phải thay đổi: đề tài không chỉ được nghiệm thu trên báo cáo, mà phải gắn với hợp đồng chuyển giao, với vùng nguyên liệu và dây chuyền sản xuất – như cách một số kết quả ở Huế đã chuyển giao vào sản xuất nhân giống rau má Quảng Thọ, sen Huế, măng tre A Hum hay xây dựng vùng nguyên liệu ba kích tím, tràm gió bằng nuôi cấy mô. Cơ quan quản lý cần đóng vai trò kiến tạo, điều phối để các thành phần trong hệ thống đổi mới sáng tạo có điều kiện hợp tác, từ khâu đặt bài toán, tổ chức nghiên cứu đến ứng dụng. Dữ liệu từ thực tiễn sản xuất và thị trường phải được đưa ngược về viện, trường, để chu trình đổi mới được khép kín và liên tục cải tiến. Quan điểm xuyên suốt là: mọi đầu tư công nghệ sinh học từ nay nên được đo bằng số sản phẩm ra thị trường, mức độ doanh nghiệp tham gia và tác động cụ thể tới người dân – từ người nông dân sử dụng giống mới, đến doanh nghiệp nông nghiệp công nghệ cao và hệ thống y tế, môi trường. Nếu không chuyển cách đo, Việt Nam sẽ tiếp tục mạnh trên giấy tờ khoa học nhưng yếu khi bước vào sân chơi thị trường.

Sammfy nhận hoa hồng khi bạn mua sắm qua liên kết của chúng tôi, bạn không phải trả thêm chi phí.

You May Also Like

Comments
Viết gì đó...
Chưa có bình luận nào. Hãy là người đầu tiên chia sẻ suy nghĩ!