Nghiên cứu chỉ có giá trị kinh tế khi đi đến ứng dụng
Thương mại hóa nghiên cứu là quá trình biến tri thức, công nghệ và tài sản trí tuệ do trường đại học tạo ra thành sản phẩm, quy trình hoặc dịch vụ được doanh nghiệp và người dùng tiếp nhận, qua đó tạo giá trị kinh tế. Đây không phải phần việc phụ sau công bố khoa học: nó là phép thử xem nghiên cứu có giải quyết được vấn đề ngoài phòng thí nghiệm hay không. Tín hiệu tăng trưởng đã rõ. Doanh thu từ khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo của các cơ sở giáo dục đại học trong bộ dữ liệu tiêu chuẩn năm 2025 tăng 58,07% so với năm trước, nhưng mới chiếm 4,94% tổng doanh thu được thống kê. Tỷ trọng khiêm tốn ấy cho thấy nhiều trường đang tạo thêm nguồn thu, song tiềm năng nghiên cứu vẫn chưa chuyển hóa tương xứng thành sản phẩm thương mại. Vì vậy, số bằng sáng chế hay bài báo chỉ là đầu vào; thước đo thuyết phục hơn là công nghệ có được ứng dụng và có người sẵn sàng trả tiền hay không.

Tài sản trí tuệ và hợp đồng nghiên cứu tạo dòng thu
Một hướng tạo doanh thu là bảo hộ tài sản trí tuệ rồi cấp phép hoặc chuyển giao công nghệ; hướng khác là nhận đơn hàng nghiên cứu trực tiếp từ doanh nghiệp. Tại Trường ĐH Công nghiệp TP.HCM, 78 công nghệ và sản phẩm nghiên cứu được cấp văn bằng bảo hộ trong năm năm qua, hơn 20 sản phẩm và giải pháp đã chuyển giao cho doanh nghiệp. Doanh thu khoa học và công nghệ của trường tăng từ 12 tỉ đồng năm 2022 lên 77 tỉ đồng năm 2025. ĐH Cần Thơ cũng ghi nhận nguồn thu khoa học và công nghệ đạt 78,54 tỉ đồng năm 2025, tăng 37,6% so với năm trước. Trong giai đoạn 2025–2026, trường phát triển 24 sản phẩm, chuyển giao 10 sản phẩm và quy trình cho bảy đối tác; ba sản phẩm đã thương mại hóa, bốn quy trình được ứng dụng trực tiếp vào sản xuất, kinh doanh. Những kết quả này cho thấy đại học hợp tác doanh nghiệp không chỉ để có thêm kinh phí nghiên cứu: quan hệ đó còn mở đường để giải pháp tới nhà máy, thị trường và người sử dụng.

Từ bắt tay doanh nghiệp đến bài toán triển khai
Mô hình có triển vọng nhất là để doanh nghiệp tham gia từ lúc xác định vấn đề, cùng đầu tư phát triển và cam kết tiếp nhận nếu công nghệ đáp ứng yêu cầu. Tại khu công nghệ cao và đổi mới sáng tạo của ĐH Quốc gia Hà Nội, các đơn vị hợp tác với 15 tập đoàn, doanh nghiệp, ký thỏa thuận với bảy công ty và nhận đơn đặt hàng nghiên cứu, phát triển trị giá hơn 50 tỉ đồng trong năm 2025. Đây là cách giảm nguy cơ nghiên cứu xong mới đi tìm người mua. Tuy vậy, khoảng cách từ nguyên mẫu đến sản phẩm dùng được vẫn lớn. Bộ Giáo dục và Đào tạo ghi nhận nhiều kết quả nghiên cứu dừng ở mức độ sẵn sàng công nghệ TRL 3–4, trong khi doanh nghiệp thường chỉ sẵn sàng tiếp nhận ở TRL 6–7 trở lên. Vì thế, chuyển giao công nghệ cần cả thử nghiệm thực tế, hoàn thiện sản phẩm và kinh phí cho giai đoạn phát triển — những khâu dễ bị bỏ ngỏ nếu chỉ tài trợ nghiên cứu ban đầu.
Đầu ra thị trường phải là mục tiêu ngay từ đầu
Quy mô sáng chế tăng là cơ hội, nhưng không tự bảo đảm doanh thu. Các trường đại học nộp 496 đơn đăng ký sáng chế trong năm 2025; riêng chín tháng đầu năm 2026 đã có 513 đơn. Cùng lúc, danh mục sản phẩm sẵn sàng chuyển giao của ngành gồm 1.022 công nghệ, nhưng gần một nửa chưa được xác định mức độ sẵn sàng theo thang TRL. Nút thắt vì thế không chỉ nằm ở việc thiếu ý tưởng, mà còn ở khâu đánh giá, hoàn thiện và tìm đối tác phù hợp. Để tháo gỡ, cần liên minh nghiên cứu giữa Nhà nước, trường và doanh nghiệp, quỹ đồng tài trợ cho giai đoạn phát triển công nghệ, cùng các doanh nghiệp khởi nguồn và khu khoa học công nghệ gắn với đại học. Một số trường cũng hỗ trợ giảng viên kinh phí, thủ tục sở hữu trí tuệ, thử nghiệm và tìm đối tác thương mại hóa. Kết luận nên rõ ràng: thương mại hóa nghiên cứu chỉ tạo nguồn thu bền vững khi nhu cầu thị trường được đưa vào từ đầu và có nguồn lực đưa công nghệ vượt qua khoảng cách giữa phòng thí nghiệm với ứng dụng.






