Chiến lược làm chủ 10 công nghệ lõi: từ phòng thí nghiệm đến thị trường

Chiến lược làm chủ 10 công nghệ lõi: từ phòng thí nghiệm đến thị trường
Sở thích|Phổ biến khoa học chuyên gia

Mục tiêu làm chủ công nghệ lõi: không chỉ thêm phòng thí nghiệm, mà là xây cả hệ thống

Chiến lược phát triển hệ thống trung tâm nghiên cứu quốc gia, thử nghiệm và phòng thí nghiệm trọng điểm là định hướng xây dựng một mạng lưới hạ tầng khoa học hiện đại, đồng bộ, có khả năng kết nối và khai thác dùng chung nhằm giúp Việt Nam làm chủ công nghệ lõi, công nghệ chiến lược và thương mại hóa kết quả nghiên cứu ở quy mô quốc gia. Đây là bước chuyển từ tư duy đầu tư rời rạc sang tiếp cận hệ thống. Cốt lõi của Đề án là hình thành năng lực quốc gia về nghiên cứu, thử nghiệm, đo lường, kiểm định, đánh giá sự phù hợp, sản xuất thử và thương mại hóa công nghệ, qua đó nâng cao khả năng hấp thụ và làm chủ công nghệ, tăng tự chủ công nghệ quốc gia. Mục tiêu làm chủ 10 công nghệ lõi Việt Nam, vận hành tối thiểu 8 phòng thí nghiệm trọng điểm và xây ít nhất 4 trung tâm nghiên cứu thử nghiệm quốc gia không phải là “kho số liệu”, mà là lời tuyên bố rằng nền kinh tế muốn chuyển từ phụ thuộc công nghệ sang tự thiết kế luật chơi của mình.

Vì sao phải đầu tư cho nơi công nghệ lõi Việt Nam được sinh ra ngay lúc này?

Nhiều doanh nghiệp đã tạo ra sản phẩm công nghệ chất lượng, nhưng phía sau mỗi sản phẩm là cả hệ sinh thái phòng thí nghiệm, thiết bị thử nghiệm và đội ngũ chuyên gia. Khi nền tảng đó còn thiếu, việc làm chủ công nghệ lõi Việt Nam bị kẹt ở bước mua công nghệ, thiết bị, quy trình từ bên ngoài. Đề án phát triển trung tâm nghiên cứu quốc gia và phòng thí nghiệm trọng điểm xuất hiện trong bối cảnh nhu cầu “thoát phụ thuộc” trở nên cấp bách: nếu không sở hữu hạ tầng nghiên cứu, chúng ta khó có công nghệ mang dấu ấn Việt Nam. Câu nói đáng trích: “Mục tiêu làm chủ 10 công nghệ lõi vì thế không chỉ là một con số, mà là lời khẳng định về khát vọng nâng cao năng lực tự chủ công nghệ của đất nước”. Việc định hình ít nhất 8 phòng thí nghiệm trọng điểm和4 trung tâm nghiên cứu thử nghiệm là cách đặt nền móng, chứ không phải cuộc đua trang bị thiết bị đơn lẻ.

Chiến lược làm chủ 10 công nghệ lõi: từ phòng thí nghiệm đến thị trường

Thiết kế hệ thống phòng thí nghiệm trọng điểm: chọn ít nhưng phải đủ mạnh

Đề án nhắm tới việc đến năm 2030 nâng cấp, đầu tư mới và đưa vào vận hành tối thiểu 8 phòng thí nghiệm trọng điểm quốc gia trong các lĩnh vực then chốt như công nghệ số, mạng di động thế hệ sau, robot và tự động hóa, sinh học và y sinh tiên tiến, năng lượng và vật liệu tiên tiến, an ninh mạng và lượng tử, biển, đại dương và lòng đất, hàng không và vũ trụ. Điểm đáng chú ý là nguyên tắc không dàn trải: ưu tiên nâng cấp, kết nối và khai thác dùng chung hạ tầng hiện có, đầu tư mới chỉ khi thật cần thiết. Cách tiếp cận này đối lập với tâm lý “mỗi nơi một phòng thí nghiệm”, dễ gây lãng phí và phân tán nguồn lực. Việc hình thành tối thiểu 4 trung tâm nghiên cứu, thử nghiệm quốc gia về thiết bị bay không người lái, sinh học và y sinh, vật liệu, đường sắt tốc độ cao và đô thị cho thấy chiến lược chọn một số điểm tập trung để tạo năng lực quốc gia thay vì nhiều điểm yếu. Từ năm thứ ba vận hành, mục tiêu tăng tối thiểu 18% mỗi năm các đơn đăng ký sáng chế và văn bằng bảo hộ công nghệ lõi, công nghệ chiến lược là thước đo chất lượng của việc đầu tư hạ tầng, chứ không phải số lượng phòng thí nghiệm.

Kết nối trung tâm nghiên cứu quốc gia với hệ sinh thái đổi mới và cơ chế thương mại hóa

Nếu không vượt qua “thung lũng chết” giữa phòng lab và thị trường, mục tiêu làm chủ công nghệ chỉ dừng ở bài báo khoa học. Đề án đặt trọng tâm vào thương mại hóa kết quả nghiên cứu và tài sản trí tuệ, với mục tiêu hình thành ít nhất 10 doanh nghiệp khởi nghiệp sáng tạo hoặc doanh nghiệp khoa học và công nghệ có khả năng phát triển, làm chủ và thương mại hóa công nghệ lõi, công nghệ chiến lược và sản phẩm công nghệ chiến lược. Mỗi trung tâm nghiên cứu quốc gia và phòng thí nghiệm trọng điểm phải kết nối với ít nhất một hệ sinh thái đổi mới sáng tạo hoặc cụm liên kết gồm viện nghiên cứu, trường đại học, doanh nghiệp và cơ quan quản lý nhà nước, bảo đảm kết quả nghiên cứu gắn với nhu cầu thị trường, quốc phòng, an ninh và năng lực cạnh tranh doanh nghiệp Việt Nam. Cách thiết kế này ngầm khẳng định: phòng thí nghiệm không còn là “tháp ngà nghiên cứu”, mà là mắt xích trong chuỗi giá trị, nơi đầu ra mặc định phải là công nghệ có thể được thương mại hóa kết quả nghiên cứu thay vì báo cáo lưu kho.

Từ cơ chế tới nhân lực: điều gì sẽ quyết định thành bại của tham vọng 10 công nghệ lõi?

Đề án không dừng ở tầm nhìn, mà xác định 6 nhóm nhiệm vụ: xây dựng văn bản quản lý, vận hành; đổi mới cơ chế đầu tư tài chính; quản trị, tổ chức vận hành và khai thác dùng chung; phát triển nguồn nhân lực; hợp tác quốc tế; giám sát, đánh giá hệ thống. Đây là thừa nhận rằng muốn làm chủ công nghệ phải cải tổ cả thể chế lẫn con người. Nguồn lực sẽ huy động từ ngân sách trung ương, địa phương, doanh nghiệp và các nguồn vốn hợp pháp khác, đồng thời khuyến khích đồng đầu tư và đối tác công tư, doanh nghiệp tham gia đặt hàng nghiên cứu, thử nghiệm và khai thác tài sản trí tuệ. Tầm nhìn đến năm 2035 là tiếp tục đầu tư, nâng cấp, kết nối với mạng lưới hạ tầng nghiên cứu tiên tiến trong khu vực và quốc tế, hướng tới một số trung tâm, phòng thí nghiệm đạt trình độ hàng đầu khu vực về công nghệ chiến lược. Câu hỏi còn lại không phải “có nên làm không”, mà là “chúng ta có đủ kiên trì để biến 10 công nghệ lõi thành chuẩn mực của kinh tế tri thức Việt Nam, thay vì chỉ là mục tiêu trên giấy?”.

Sammfy nhận hoa hồng khi bạn mua sắm qua liên kết của chúng tôi, bạn không phải trả thêm chi phí.

You May Also Like

Comments
Viết gì đó...
Chưa có bình luận nào. Hãy là người đầu tiên chia sẻ suy nghĩ!