Luật Dầu khí sửa đổi: Cánh cửa mới cho tư nhân và vốn ngoại

Luật Dầu khí sửa đổi: Cánh cửa mới cho tư nhân và vốn ngoại
Sở thích|Đông Nam Á

Luật Dầu khí sửa đổi là gì và vì sao được coi là bước ngoặt đầu tư?

Luật Dầu khí sửa đổi là khung pháp lý mới điều chỉnh hoạt động tìm kiếm, thăm dò, khai thác dầu khí và các hoạt động liên quan như năng lượng ngoài khơi, thu hồi và lưu trữ carbon, với trọng tâm là phân quyền quyết định, tối ưu mô hình quản lý thượng nguồn và thiết kế cơ chế tài chính, hợp đồng, ưu đãi đầu tư theo hướng cạnh tranh hơn nhằm thu hút mạnh mẽ nguồn vốn tư nhân và nước ngoài vào ngành năng lượng Việt Nam.

Ý nghĩa chính trị – pháp lý của lần sửa đổi này nằm ở chỗ Quốc hội chuyển hẳn từ tư duy “quản lý chặt” sang “kiến tạo phát triển”, đẩy mạnh phân cấp, phân quyền, giảm tầng nấc thủ tục. Chiều 17/8, Ủy ban Thường vụ Quốc hội đã cho ý kiến về việc giải trình, tiếp thu, chỉnh lý dự thảo Luật Dầu khí (sửa đổi) dưới sự điều hành của Phó Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Hồng Diên. Sau phiên họp này, cơ quan thường trực của Quốc hội thống nhất trình toàn thể Quốc hội xem xét, biểu quyết thông qua. Theo chương trình kỳ họp, ngày 23/8 Quốc hội biểu quyết thông qua dự án luật. Lịch trình gấp cho thấy áp lực cải cách khi các mỏ hiện hữu suy giảm, trữ lượng mới chủ yếu ở vùng nước sâu, xa bờ, điều kiện địa chất phức tạp.

Phân quyền quy định: Từ nút thắt thủ tục sang trách nhiệm rõ ràng

Điểm xoay trục quan trọng nhất của Luật Dầu khí sửa đổi là cơ chế phân quyền quy định được thiết kế lại: phân quyền mạnh hơn nhưng đi kèm phân định trách nhiệm rõ ràng giữa Thủ tướng, Bộ Công Thương và Petrovietnam. Dự thảo luật đẩy mạnh phân cấp, phân quyền, giao quyền đối với các nội dung chuyên môn kỹ thuật để rút ngắn thời gian quyết định. Thẩm quyền của Bộ Công Thương được tăng cường trong việc chấp thuận chủ trương thực hiện các dự án phát triển mỏ dầu khí có chuỗi đồng bộ công trình, thiết bị trên đất liền và trên biển.

Về bản chất, Quốc hội đang thừa nhận rằng nếu mọi thứ đều dồn lên cấp Thủ tướng thì dự án thượng nguồn sẽ tiếp tục trì trệ, chi phí giao dịch tăng và cơ hội đầu tư dầu khí bị bỏ lỡ. Quan trọng hơn, việc “gắn phân quyền quyết định với phân quyền trách nhiệm của Bộ Công Thương nhưng vẫn phải bảo đảm thẩm quyền và trách nhiệm của các cơ quan có liên quan” là điểm trấn an cho nhà đầu tư quốc tế: họ sẽ có một đầu mối chủ trì, nhưng vẫn có cơ chế kiểm tra – giám sát và giải trình. Mô hình quản lý thượng nguồn mới được yêu cầu quy định rõ cơ chế, quy trình phối hợp để vận hành thông suốt, hiệu quả sau khi phân cấp mạnh cho Bộ Công Thương và Tập đoàn Công nghiệp – Năng lượng Quốc gia Việt Nam.

Cơ chế tài chính, hợp đồng và ưu đãi: Tăng sức cạnh tranh cho vốn tư nhân và nước ngoài

Khung ưu đãi đầu tư luôn là câu hỏi đầu tiên của các nhà đầu tư dầu khí; lần sửa đổi này cho thấy nhà làm luật đã lắng nghe nhiều hơn. Dự thảo bổ sung, hoàn thiện chính sách ưu đãi đối với hoạt động dầu khí và cơ chế khai thác đối với các mỏ, cụm mỏ, lô dầu khí đang trong giai đoạn khai thác tận thu. Đây là “vùng xám” lâu nay, nơi nhiều mỏ nhỏ hoặc suy giảm sản lượng lẽ ra còn có thể tận thu nhưng thiếu cơ chế phù hợp nên khó có dòng vốn mới.

Một vấn đề kỹ thuật nhưng tác động tài chính lớn là xử lý các khoản chi phí Petrovietnam thực hiện thay nghĩa vụ của Nhà nước với tư cách nước chủ nhà, dự thảo đã bổ sung nguyên tắc xác định và xử lý các khoản chi phí này. Nếu được triển khai nhất quán, điều này cải thiện độ minh bạch tài chính và giảm tranh chấp hợp đồng – điểm mấu chốt với nhà đầu tư nước ngoài. Ở chiều thu hút vốn mới, các cơ chế ưu đãi và hợp đồng dầu khí có tính cạnh tranh hơn đối với các dự án nước sâu, xa bờ được kỳ vọng sẽ cải thiện khả năng thu hút đầu tư, gia tăng trữ lượng và mở rộng không gian phát triển cho ngành. Nói cách khác, Luật Dầu khí sửa đổi đang cố gắng đưa Việt Nam vào nhóm hấp dẫn hơn trong bản đồ đầu tư dầu khí khu vực.

CCS và năng lượng ngoài khơi: Tín hiệu chuyển dịch sang nền kinh tế carbon thấp

Một bước đi có tính “định hình tương lai” là lần đầu tiên hoạt động thu giữ, xử lý, vận chuyển, bơm ép và lưu trữ carbon dioxide (lưu trữ carbon CCS) được đưa vào Luật Dầu khí. Khung pháp lý bước đầu này cho phép thực hiện hoạt động thu hồi, lưu trữ carbon gắn với hoạt động dầu khí, hướng tới tận dụng tối đa tiềm năng và thành tạo địa chất sẵn có của các mỏ hiện hữu, đồng thời góp phần nâng cao hiệu quả và thu hút thêm đầu tư cho hoạt động dầu khí. Khoản 7 Điều 50 dự thảo luật quy định nguyên tắc việc tiếp tục triển khai hoạt động CCS sau khi chấm dứt khai thác hoặc hợp đồng dầu khí sẽ “thực hiện theo quy định của Chính phủ”.

Việc xây dựng các quy định mang tính nguyên tắc về CCS ngay trong Luật Dầu khí tạo cơ sở pháp lý ban đầu, còn chi tiết giao cho Chính phủ quy định để bảo đảm tính linh hoạt, chủ động khi triển khai hoạt động rất mới này. Điều đó mở cửa cho những mô hình kinh doanh mới trong chuỗi giá trị năng lượng Việt Nam và nền kinh tế carbon thấp, từ các dự án CCS gắn với mỏ dầu – khí đến các dự án CCS độc lập trong tương lai. Song song, Luật chỉ điều chỉnh các công trình năng lượng ngoài khơi gắn trực tiếp với hoạt động dầu khí để tận dụng hạ tầng; các dự án năng lượng ngoài khơi độc lập sẽ do pháp luật điện lực và đầu tư điều chỉnh. Cách tiếp cận này tạo “cầu nối” tự nhiên giữa ngành dầu khí và xu hướng phát triển năng lượng ngoài khơi sạch hơn.

Tác động tới mô hình quản lý thượng nguồn và người dân: Cơ hội lớn, rủi ro không nhỏ

Với việc phân định lại thẩm quyền giữa Thủ tướng, Bộ Công Thương và Petrovietnam, yêu cầu đặt ra là mô hình quản lý hoạt động dầu khí thượng nguồn phải vận hành thông suốt, hiệu quả chứ không chỉ “đẹp trên giấy”. Thường trực Ủy ban Kinh tế và Tài chính đề nghị Chính phủ chú trọng xây dựng văn bản quy định chi tiết, hướng dẫn thi hành, quy định rõ cơ chế, quy trình phối hợp; gắn phân quyền với trách nhiệm, báo cáo, hậu kiểm. Đồng thời, trường hợp phát sinh vướng mắc, các bộ, ngành và Tập đoàn phải kịp thời báo cáo để tháo gỡ, không để kéo dài gây lãng phí nguồn lực.

Với người dân và doanh nghiệp, lợi ích không nằm ở câu chữ luật mà ở thời gian và chi phí: việc phân cấp được kỳ vọng sẽ giảm các tầng nấc thủ tục, rút ngắn thời gian chuẩn bị và triển khai dự án. Nếu điều này trở thành hiện thực, các dự án đầu tư dầu khí, năng lượng ngoài khơi, CCS có thể được triển khai nhanh hơn, qua đó góp phần gia tăng nguồn cung và bảo đảm an ninh năng lượng, khai thác hiệu quả các mỏ khó và từng bước đưa Việt Nam tham gia chuỗi giá trị mới của nền kinh tế carbon thấp. Hồ sơ dự án luật đã được bổ sung đánh giá tác động đầy đủ và hoàn thiện đồng bộ dự thảo nghị định hướng dẫn để bảo đảm luật có hiệu lực thi hành ngay sau khi được thông qua. Vấn đề còn lại không nằm ở thiếu luật, mà ở chất lượng tổ chức thực thi.

Sammfy nhận hoa hồng khi bạn mua sắm qua liên kết của chúng tôi, bạn không phải trả thêm chi phí. Bài viết này được tạo bằng AI từ các nguồn đã công bố và dữ liệu sản phẩm.

You May Also Like

Comments
Viết gì đó...
Chưa có bình luận nào. Hãy là người đầu tiên chia sẻ suy nghĩ!