Thiếu sách giáo khoa: vấn đề không thể đổ cho “khó dự báo”
Thiếu sách giáo khoa là tình trạng các trường, lớp và học sinh không nhận đủ số lượng sách cần thiết theo chương trình học đã quy định, dù số liệu về sĩ số, nhu cầu và kế hoạch cung ứng đã được thống kê, khiến việc dạy – học bị gián đoạn và phụ huynh phải tự xoay xở trong bối cảnh trách nhiệm chuỗi cung ứng chưa được làm rõ.
Năm học 2026-2027 là năm đầu tiên cả nước sử dụng thống nhất bộ sách “Kết nối tri thức với cuộc sống”, chấm dứt tình trạng mỗi địa phương, mỗi trường chọn nhiều bộ khác nhau. Điều đó theoretically phải giúp cung ứng sách giáo dục dễ dàng hơn: cơ quan quản lý có thể dự báo tổng nhu cầu, nhà xuất bản giáo dục in theo số lượng học sinh, đơn vị phát hành xây mạng lưới phân phối thống nhất. Thế nhưng sau một tuần thực học của năm học 2026-2027, nhiều nơi vẫn thiếu sách giáo khoa. Khi bài toán đã được đơn giản hóa mà kết quả vẫn thất bại, việc tiếp tục viện lý do “khó dự báo” là không thuyết phục; vấn đề nằm ở chất lượng quản lý và năng lực phối hợp, chứ không phải ở độ phức tạp của con số.

Chuỗi cung ứng sách giáo dục: số liệu đẹp, hệ thống yếu
Nếu nhìn vào số liệu, câu chuyện thiếu sách giáo khoa 2026-2027 không phải là một thảm họa về sản xuất mà là một thất bại về tổ chức. Đến hết ngày 14/9, tổng nhu cầu sách là 245,94 triệu bản, kế hoạch in ban đầu 228,9 triệu, và nhà xuất bản giáo dục Việt Nam đã cung ứng khoảng 236,6 triệu bản. Sau khi rà soát với 34 tỉnh, thành phố, cả nước còn thiếu 3.916.370 cuốn, tương đương khoảng 1,5% tổng nhu cầu. Con số 1,5% nghe có vẻ nhỏ, nhưng đó vẫn là gần 4 triệu cuốn SGK chưa đến tay học sinh, trong bối cảnh chỉ sử dụng một bộ sách thống nhất.
Đây chính là nghịch lý: sản xuất không hụt quá xa, nhưng cung ứng sách giáo dục lại trục trặc khi nhu cầu tăng nhanh do sắp xếp lại đơn vị hành chính, mạng lưới trường lớp và chính sách hỗ trợ, cấp SGK tại một số địa phương. Nhu cầu phát sinh sau tuyển sinh và chính sách hỗ trợ không được cập nhật kịp thời, tạo khoảng cách giữa số liệu đặt hàng và thực tế. Bộ Giáo dục và Đào tạo thừa nhận công tác dự báo, tổng hợp và phân tích nhu cầu trong điều kiện mới không theo kịp thực tế, đánh giá năng lực sản xuất và mạng lưới cung ứng của nhà xuất bản giáo dục còn thiếu và điều phối sách chưa đủ nhanh, linh hoạt. Nói thẳng, chuỗi cung ứng đã không được thiết kế cho sự “bùng phát” nhu cầu, dù các dữ liệu dân số, sĩ số vốn nằm sẵn trong tay ngành giáo dục.

Học sinh, phụ huynh gánh hậu quả của một chuỗi trách nhiệm mờ
Trong mọi báo cáo, thiếu sách giáo khoa thường được gọi là “thiếu cục bộ”, nhưng với học sinh và phụ huynh, đó là thiếu căn bản. Học sinh không có sách sẽ khó chuẩn bị bài, khó tự học và khó theo dõi bài giảng của giáo viên trên lớp. Phụ huynh ở nhiều nơi, như TP.HCM, phải săn tìm sách hàng tuần mà vẫn chưa đủ, đến ngày 25/8 vẫn còn 197 trường chưa tiếp nhận đăng ký mua sách. Họ buộc phải đổ xô đến hệ thống bán lẻ sát ngày khai giảng, thậm chí sau khai giảng, gây quá tải cục bộ. Đây không còn là chuyện “thiếu 1,5%” trên giấy tờ, mà là những ngày con không có sách, cha mẹ phải xin, mượn, photo hoặc cho con tạm học chay.
Trong khi đó, hệ thống quản lý lại chia nhỏ lý do: nhà xuất bản đang bổ sung, đơn vị phát hành chưa giao, trường chưa nhận đủ, phụ huynh chưa mua, số học sinh biến động. Mỗi lý do đều có thể đúng, nhưng khi trách nhiệm bị chia nhỏ như vậy, cuối cùng không ai đứng mũi chịu sào để bảo đảm trẻ có đủ sách ngay trong tuần đầu năm học. Bộ Giáo dục và Đào tạo đã nhận trách nhiệm cùng nhà xuất bản giáo dục Việt Nam và các địa phương, song nếu vẫn duy trì cơ chế “nhiều người cùng chịu một chút”, thì mỗi năm câu chuyện thiếu SGK sẽ lặp lại. Một hệ thống cung ứng tử tế phải có tỷ lệ dự phòng, cơ chế điều chuyển nhanh và quan trọng hơn, một đầu mối chịu trách nhiệm cuối cùng khi sách không đến kịp tay học sinh.
Sách giáo khoa cần được coi là hàng thiết yếu đặc thù, có chế độ cung ứng riêng
Cách chúng ta đối xử với sách giáo khoa hiện nay vẫn như một sản phẩm thương mại thông thường: đặt hàng theo đăng ký, in vừa đủ, giao hàng theo hợp đồng và xử lý thiếu bằng cách “bổ sung dần”. Điều này không phù hợp với tính chất chiến lược của SGK. Bộ Giáo dục và Đào tạo đã xác định cần rà soát cơ chế quản lý SGK theo hướng coi đây là sản phẩm, dịch vụ công, mặt hàng thiết yếu đặc thù. Nếu sách giáo khoa được pháp lý hóa như một hàng hóa thiết yếu, chuỗi cung ứng sách giáo dục sẽ phải tuân thủ những chuẩn mực giống như với các mặt hàng chiến lược: có kho dự trữ, kế hoạch dự phòng, cơ chế điều chuyển liên vùng và hệ thống giám sát trách nhiệm.
Những giải pháp ngắn hạn đang triển khai – điều chuyển sách từ nơi thừa sang nơi thiếu, tiếp tục in và cung ứng bổ sung, ưu tiên học sinh chưa có hoặc thiếu nhiều đầu sách, nhất là vùng biên giới, vùng sâu, vùng xa – là cần thiết nhưng mới giải quyết phần nổi. Bộ duy trì Tổ công tác phản ứng nhanh, thường trực 24/7 đến hết ngày 30/9, công khai điểm bán, đường dây nóng và kênh đặt hàng trực tuyến, cho phép dùng SGK điện tử miễn phí và tận dụng sách thư viện, sách cũ trong thời gian chờ bản in. Những động thái này cho thấy hệ thống hoàn toàn có thể “chuyển động nhanh” nếu coi thiếu SGK là tình huống khẩn cấp. Điều cần làm tiếp theo là cố định tốc độ đó thành quy chuẩn thay vì chỉ kích hoạt khi xảy ra khủng hoảng.
Giải pháp cấp bách: dữ liệu thống nhất, dự phòng bắt buộc, trách nhiệm rõ ràng
Muốn chấm dứt cảnh thiếu sách giáo khoa lặp lại đầu mỗi năm học, hệ thống phải thay đổi theo ba trục: dữ liệu, dự phòng và trách nhiệm. Thứ nhất, ngành giáo dục cần xây dựng cơ sở dữ liệu thống nhất về nhu cầu SGK từ trung ương đến từng trường, cập nhật liên tục theo biến động thực tế; thống kê số lượng học sinh trên cơ sở dữ liệu quốc gia không còn là việc khó đối với ngành giáo dục và nhà xuất bản. Thứ hai, các công ty phát hành không được phép in và phát hành với số lượng đúng bằng số học sinh dự kiến, mà phải có tỷ lệ sách dự phòng bắt buộc. Thứ ba, ngay trong tuần tựu trường, địa phương phải cập nhật tình trạng trường nào đủ, trường nào thiếu, thiếu môn nào, thiếu bao nhiêu, để kịp chỉ đạo điều phối.
Cùng với đó, cần một cơ chế điều chuyển sách nhanh giữa các trường, các địa phương, nơi thừa phải có khả năng xuất kho cho nơi thiếu trong vài ngày chứ không phải vài tuần. Quan trọng hơn, chuỗi cung ứng phải được thiết kế lại với điểm chịu trách nhiệm rõ ràng: khi thiếu sách, phải xác định được nguyên nhân và trách nhiệm cụ thể thay vì “chia đều trách nhiệm cho cả hệ thống”. Bộ Giáo dục và Đào tạo đã nói đến việc chấn chỉnh các hạn chế trong chuỗi cung ứng và xác định SGK là hàng thiết yếu đặc thù. Câu hỏi còn lại không nằm ở nhận thức mà ở tốc độ triển khai. Khi đã có một chương trình, một bộ sách giáo khoa, việc để gần 4 triệu cuốn SGK không đến được tay học sinh trong đầu năm học là một cảnh báo nghiêm khắc về năng lực thực thi. Cải thiện chuỗi cung ứng SGK không phải là lựa chọn, mà là nghĩa vụ đối với thế hệ đang cầm sách bước vào lớp học.






