Sức mạnh mềm phải tạo được ảnh hưởng thực chất
Sức mạnh mềm là khả năng tạo sức hấp dẫn, niềm tin và quan hệ hợp tác thông qua các giá trị văn hóa, thay vì dựa chủ yếu vào sức ép hay nguồn lực vật chất. Với Việt Nam, đây không nên chỉ là câu chuyện quảng bá hình ảnh: văn hóa cần trở thành nguồn lực chiến lược gắn với phát triển và vị thế quốc tế.
Ngày 26/10, Bộ Ngoại giao tổ chức Hội thảo khoa học quốc gia “Đối ngoại toàn diện ở tầm cao mới” trong bối cảnh thế giới biến chuyển nhanh, khó dự báo và đất nước bước vào giai đoạn phát triển với yêu cầu cao hơn về hòa bình, tự chủ và không gian phát triển. Trên 100 đại biểu tham dự; hội thảo ghi nhận hơn 30 tham luận và ý kiến đóng góp. Thông điệp đáng chú ý là đối ngoại không thể chỉ được đo bằng hình ảnh hay số cuộc gặp, mà phải tạo năng lực và điều kiện bền vững cho đất nước. Vì vậy, đưa sức mạnh mềm Việt Nam vào chiến lược đối ngoại toàn diện là lựa chọn thực tế, không phải phần trang trí cho chính sách.
Tài nguyên văn hóa chỉ có giá trị khi được chuyển hóa
Việt Nam có nền văn hóa của 54 dân tộc, cùng 9 di sản văn hóa và thiên nhiên thế giới và 16 di sản văn hóa phi vật thể được UNESCO vinh danh. Nhưng danh mục phong phú tự nó chưa tạo ra ảnh hưởng. Thách thức là biến những giá trị ấy thành trải nghiệm, tri thức và quan hệ hợp tác khiến đối tác hiểu Việt Nam, tin cậy Việt Nam và muốn đồng hành lâu dài.
Tại hội thảo, tham luận về phát huy sức mạnh mềm nêu việc Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch trình Thủ tướng ban hành ba chiến lược quốc gia trong vòng một năm, hướng tới đưa sức mạnh mềm thành nguồn lực chiến lược cho phát triển bền vững. Mục tiêu đến năm 2045 là đưa Việt Nam vào nhóm 30 nước dẫn đầu thế giới về Chỉ số Sức mạnh mềm. Đích đến này có ý nghĩa nếu được nối với năng lực thực thi: ngoại giao văn hóa cần đi cùng hợp tác giáo dục, nghệ thuật, di sản và giao lưu con người, thay vì dừng ở các chiến dịch giới thiệu hình ảnh.
Một dấu hiệu cho thấy văn hóa có thể bước vào nghị trình quốc tế là sáng kiến “Thập kỷ quốc tế về văn hóa vì phát triển bền vững 2027–2036” của Việt Nam được Đại hội đồng Liên hợp quốc thông qua ngày 4/9/2026, với 103 nước đồng bảo trợ. Đây là cơ hội để biến tiếng nói văn hóa thành hợp tác có mục tiêu và đối tác cụ thể.
Phật giáo Việt Nam: một kênh đối ngoại nhân dân có chiều sâu
Nếu định hướng chiến lược cho biết văn hóa cần phục vụ mục tiêu nào, Phật giáo cho thấy một lĩnh vực cụ thể có thể đóng góp ra sao. Sáng 24/10, tại Chùa Bái Đính, Ban Phật giáo Quốc tế Trung ương thuộc Giáo hội Phật giáo Việt Nam phối hợp với Viện Trần Nhân Tông, Đại học Quốc gia Hà Nội tổ chức hội thảo về Phật giáo Việt Nam tham gia hoạt động đối ngoại nhân dân. Sự kiện hướng tới kỷ niệm 45 năm thành lập Giáo hội; ban tổ chức tiếp nhận 183 bài tham luận.
Các đại biểu bàn về nền tảng và đặc trưng của Phật giáo Việt Nam trong đối ngoại nhân dân, đánh giá thành tựu qua chiều sâu và tính bền vững của các quan hệ đã xây dựng, đồng thời xác lập tầm nhìn đóng góp cùng cộng đồng quốc tế. Cách tiếp cận này đáng chú ý: một tổ chức tôn giáo không chỉ là đối tượng được giới thiệu, mà có thể là chủ thể kết nối.
Mang tinh thần “Hộ quốc an dân” và “tùy duyên bất biến”, Phật giáo Việt Nam được nhìn nhận như nhịp cầu văn hóa hòa bình và một kênh đối ngoại nhân dân; việc tổ chức các đại lễ Vesak Liên hợp quốc và tham gia diễn đàn tôn giáo quốc tế góp phần lan tỏa giá trị từ bi, trí tuệ cùng hình ảnh con người Việt Nam yêu chuộng hòa bình. Cơ hội nằm ở uy tín và mạng lưới giao lưu; tầm nhìn cần hướng tới quan hệ bền vững, không chỉ sự kiện nổi bật.
Từ chủ trương đến phối hợp và hành động
Hai hội thảo đặt cạnh nhau gợi ra một yêu cầu rõ ràng: đối ngoại toàn diện chỉ phát huy sức mạnh khi các chủ thể văn hóa, tôn giáo, địa phương, doanh nghiệp và cơ quan nhà nước cùng có vai trò phù hợp. Nếu thiếu phối hợp, tiềm năng dễ bị chia nhỏ thành hoạt động rời rạc; nếu có mục tiêu chung, ngoại giao văn hóa và đối ngoại nhân dân có thể bổ trợ cho ngoại giao chính thức bằng niềm tin và kết nối xã hội.
Kết luận hội thảo quốc gia ngày 26/10, Thứ trưởng Nguyễn Mạnh Cường nhấn mạnh cần xác định giải pháp tạo chuyển biến về chất, gắn định hướng với năng lực tổ chức thực hiện, nguồn lực và cơ chế phối hợp. Đây là thước đo hợp lý cho bước tiếp theo: không chỉ tuyên bố tiềm năng, mà phải xác định ai triển khai, phối hợp với ai và kết quả nào cho thấy quan hệ quốc tế được củng cố.
Văn hóa không tự động trở thành sức mạnh mềm chỉ vì giàu bản sắc. Việt Nam cần kiên trì chuyển di sản, giá trị và mạng lưới cộng đồng thành hợp tác đáng tin cậy, trong đó Phật giáo Việt Nam là một ví dụ cụ thể về năng lực kết nối. Khi được tổ chức đồng bộ và hướng tới kết quả lâu dài, văn hóa mới thực sự góp phần mở rộng ảnh hưởng quốc tế và làm vững nền tảng đối ngoại toàn diện.






