Nghệ sĩ âm nhạc cổ điển: khi đam mê phải gánh thêm gánh nặng mưu sinh
Câu chuyện kinh tế của các nghệ sĩ âm nhạc cổ điển thế hệ trước là bức tranh nơi đam mê nghệ thuật luôn song hành với áp lực mưu sinh, khi họ vừa gồng gánh chuẩn mực học thuật khắt khe, vừa xoay xở khó khăn tài chính nghệ sĩ bằng đủ cách, từ đi dạy, đi diễn đến… bán cà phê và thuốc lá để đoàn biểu diễn không bị lỗ, nhưng vẫn kiên trì bảo vệ di sản âm nhạc hàn lâm giữa bối cảnh thiếu thốn thời bao cấp. Những ký ức của NSND Quang Thọ cho thấy: để có một nền thanh nhạc chuyên nghiệp, đã có cả một thế hệ chấp nhận sống nghèo, đi buôn dọc đường lưu diễn, đổi lấy vài giờ âm nhạc đúng nghĩa trên sân khấu lớn.

Từ giảng đường nghèo khó đến những chuyến lưu diễn “âm doanh thu”
Nhìn lại lịch sử âm nhạc Việt Nam qua hành trình của Khoa Thanh nhạc, ta thấy rõ một đường dây xuyên suốt giữa học thuật và đời sống vật chất. Cuối năm 1972, NSND Quang Thọ nhập học Trường Âm nhạc Việt Nam, tiền thân của Học viện Âm nhạc Quốc gia Việt Nam ngày nay, rồi theo thầy cô đi biểu diễn khắp nơi. Những chương trình thời đó được hát cả ở Nhà hát Lớn, nhưng nhạc đệm chỉ là guitar, piano, chưa có điều kiện đứng cùng dàn nhạc giao hưởng như hiện nay. Đằng sau ánh đèn là chuỗi chuyến lưu diễn ngoài trời với doanh thu “âm”, buộc trưởng đoàn NSND Trung Kiên phải vay tiền bù lỗ chi phí chương trình. Trớ trêu là để nuôi nổi một buổi diễn cổ điển, người nghệ sĩ phải lo tính sổ sách không khác một con buôn nhỏ trên đường thiên lý.

Vừa đi hát vừa đi buôn: công việc tay trái để giữ vững sân khấu
Hình ảnh nghệ sĩ âm nhạc cổ điển tay xách va ly nốt nhạc, tay kia ôm bao cà phê, kiện thuốc lá nghe có vẻ phi lý, nhưng đó từng là giải pháp sống còn. Năm 1986, đoàn công tác do NSND Trung Kiên dẫn đầu, gồm 6 ca sĩ và 2 nhạc công độc tấu, đi biểu diễn nhiều nơi nhân kỷ niệm 30 năm thành lập trường. Tại Buôn Ma Thuột, tỉnh ủy lo trọn sân khấu, ăn ở và tạo điều kiện để đoàn mang về 2 tạ cà phê; dọc đường về Nha Trang, các thương lái mua lại số cà phê này, giúp có thêm khoản kinh phí đáng kể. Về Thanh Hóa, họ mua tiếp 10 kiện thuốc lá Bông Sen, bán lãi và dùng toàn bộ tiền đóng góp cho chương trình kỷ niệm. "Nhờ vậy mà chuyến đi không bị lỗ" – ký ức ấy, theo lời kể của NSND Quang Thọ, vẫn còn nguyên sau bốn thập niên.

Khổ luyện tám năm và sự “ăn xổi” của một bộ phận nghệ sĩ hôm nay
Đằng sau những chuyến đi hát – đi buôn là cả một nền đào tạo thanh nhạc mang tính học thuật nghiêm cẩn. Thế hệ của NSND Quang Thọ phải trải qua con đường khổ luyện dài: 4 năm trung cấp, tiếp 4 năm đại học, rồi mới dần có cơ hội đứng vững trên sân khấu, trở thành ca sĩ chuyên nghiệp. Trong dòng chảy 70 năm, Khoa Thanh nhạc đã đào tạo nên những giọng ca lớn như Lô Thanh, Trung Kiên, Trần Hiếu, Quang Thọ, Lê Dung… góp phần xây dựng nền thanh nhạc chuyên nghiệp, một mảnh ghép quan trọng của di sản âm nhạc Việt Nam. Đối lập với đó, hiện nay xuất hiện hiện tượng một bộ phận nghệ sĩ thành danh chỉ trong vài năm, "ăn xổi", tập trung vào kiến thức nhỏ lẻ, không mang tính học thuật lâu dài, chỉ bắt chước ai đó để nổi tiếng. Khi tên tuổi phình to nhanh hơn kỹ thuật, di sản âm nhạc dễ bị biến thành phông nền để gây chú ý hơn là mục tiêu để chinh phục.

Từ Concert Resonantia đến “Những thanh âm ngân mãi”: tiếp nối hay đứt gãy?
Nhân 70 năm Học viện Âm nhạc Quốc gia Việt Nam (1956-2026), Khoa Thanh nhạc không kỷ niệm bằng những phát biểu trang trọng, mà bằng hai chương trình nghệ thuật – một lựa chọn rất “đúng nghề”. Concert Resonantia diễn ra ngày 24/10, hướng tới âm nhạc thính phòng cổ điển, giới thiệu các aria nổi tiếng thế giới với sự tham gia của nhiều nghệ sĩ opera, cùng Dàn nhạc Giao hưởng Hà Nội dưới sự chỉ huy của nhạc trưởng Trần Nhật Minh. Ngày 14/11, đêm nhạc "70 năm - Những thanh âm ngân mãi" tiếp tục kể lại hành trình lịch sử âm nhạc Việt Nam qua các tác phẩm thính phòng, dân gian, nhạc nhẹ gắn với những dấu mốc của Học viện. Hai đêm nhạc quy tụ nhiều thế hệ nghệ sĩ và hướng tới việc đưa âm nhạc hàn lâm đến gần hơn khán giả trẻ. Nếu lớp trẻ hiểu ở sau mỗi bản aria là những năm tháng đi diễn lỗ, đi buôn cà phê, thuốc lá để bù chi phí, họ sẽ nhìn di sản ấy ít bằng ảo tưởng hào quang, nhiều hơn bằng lòng biết ơn.







