Làng nghề gỗ truyền thống ở ngã ba đường
Làng nghề gỗ truyền thống là các cộng đồng thợ mộc Việt Nam chuyên sản xuất và chạm khắc gỗ thủ công qua nhiều thế hệ, nơi kỹ năng, mẫu mã và tập quán nghề được truyền lại trong gia đình và trong làng, gắn chặt với đời sống văn hóa, tín ngưỡng và sinh kế của người dân. Hiện nay, những làng nghề này đang đứng trước câu hỏi then chốt: giữ nguyên cách làm cũ hay chủ động thích ứng với thị trường. Từ La Xuyên, Vạn Điểm đến Phương Độ, người ta ghi nhận hàng loạt đổi thay trong tổ chức sản xuất, lực lượng lao động, cũng như cách làm thị trường. Vấn đề không chỉ là “có tiếp tục nghề hay không”, mà là tiếp tục như thế nào để không bị tụt lại giữa cơn lốc sản phẩm công nghiệp và đồ nội thất hiện đại giá rẻ.
Thiếu lao động, thu hẹp quy mô: khi nghề không còn đủ sống
Ở Phương Độ, một làng nghề gỗ truyền thống được công nhận từ năm 2010, đã có thời hơn 60 hộ làm nghề, tạo việc làm cho hàng trăm lao động. Nay, nhiều cơ sở phải thu hẹp sản xuất, số thợ giảm rõ rệt vì thị trường chậm lại và đồ gỗ tự nhiên bị cạnh tranh bởi sản phẩm mỹ nghệ hiện đại, sức mua chỉ còn khoảng 20–30% so với trước. Đây là con số biết nói: nó cho thấy nghề mộc không còn bảo đảm thu nhập ổn định cho nhiều gia đình. Một bộ phận lao động chuyển sang làm công nhân, chăn nuôi hoặc nghề khác, khiến lực lượng thợ mộc già đi và mỏng dần. Nếu không tạo được giá trị mới từ các sản phẩm gỗ mỹ nghệ, những làng nghề này có nguy cơ tồn tại “trên danh nghĩa” nhiều hơn là một không gian nghề sống động.
Giữa máy và tay: giữ hồn chạm khắc gỗ thủ công
Tại La Xuyên và Vạn Điểm, bức tranh lại cho thấy một lựa chọn khác: kết hợp máy móc với chạm khắc gỗ thủ công để nâng năng suất mà không đánh mất hồn nghề. Máy cưa, máy xẻ, máy tạo phôi đảm nhận công đoạn nặng và lặp lại, giúp sản phẩm đồng đều hơn, nhưng những đường hoa văn, thần thái linh vật hay độ chuyển lớp chạm vẫn phải dựa vào con mắt và bàn tay người thợ. Ở La Xuyên, sự thiếu hụt lao động nam sau giai đoạn thị trường khó khăn đã đẩy nhiều phụ nữ vào vai trò thợ đục chạm, thậm chí làm thợ cả. Điều này không chỉ giải quyết bài toán nhân lực mà còn chứng minh kỹ năng chạm tinh không phụ thuộc vào giới tính. Vấn đề là các làng nghề có dám đầu tư cho đào tạo và phân công chuyên môn để mỗi người thợ phát huy tốt nhất tay nghề hay không.
Kinh tế xanh và chuỗi sản xuất: sống nhờ phụ phẩm, không chỉ nhờ gỗ quý
Một thay đổi âm thầm nhưng quan trọng là cách làng nghề gỗ truyền thống nhìn lại thứ họ từng coi là rác. Trước đây, mùn cưa, dăm bào bị đổ bừa bãi hoặc đem đốt, vừa lãng phí vừa gây ô nhiễm. Nay, các cơ sở dần trang bị hệ thống hút bụi, thu gom phụ phẩm và bán lại cho doanh nghiệp chế biến bột gỗ, ván ép, ván sàn và nhiều sản phẩm khác. Một cơ sở tại Vạn Điểm cho biết, từ khi có đơn vị thu mua, họ có thêm khoảng 17 triệu đồng mỗi tháng nhờ bán mùn cưa, đồng thời không còn phải tốn công xử lý. Đây là ví dụ rõ ràng cho thấy kinh tế tuần hoàn không phải khẩu hiệu: chính phụ phẩm giúp làng nghề tăng thu nhập, giảm áp lực môi trường và mở ra hướng phát triển làng nghề gắn với kinh tế xanh bền vững.
Thị trường mới, ngôn ngữ mới: tương lai nào cho làng nghề gỗ?
Vạn Điểm cho thấy nếu chỉ giỏi làm mà không biết bán, làng nghề gỗ truyền thống sẽ tự làm hẹp đường sống của mình. Hơn 80% khách của một cơ sở ở đây đến từ mạng xã hội, nơi điện thoại ghi lại cả quá trình tạo phôi, ghép mộng, chạm hoa văn, giúp khách hiểu giá trị lao động của thợ mộc Việt Nam. Đồng thời, việc đón khách du lịch đến tham quan, trải nghiệm chạm khắc, mua sản phẩm biến làng nghề thành một không gian văn hóa–kinh tế, chứ không chỉ là một “xưởng sản xuất” lớn. Theo địa phương, phát triển làng nghề phải gắn với những “ngôn ngữ mới” – từ du lịch trải nghiệm đến sản phẩm sáng tạo – để chuyển vốn văn hóa thành nguồn lực kinh tế. Cân bằng giữa di sản thủ công và thị hiếu hiện đại không còn là khẩu hiệu, mà là điều kiện sống còn cho các sản phẩm gỗ mỹ nghệ.






