Mô hình bác sĩ toàn diện: Khi lâm sàng, nghiên cứu và giáo dục gặp nhau
Mô hình bác sĩ toàn diện là cách tổ chức nghề nghiệp trong đó cùng một chuyên gia y tế vừa trực tiếp điều trị bệnh nhân, vừa tham gia nghiên cứu lâm sàng, giáo dục y học và truyền thông khoa học, từ đó đưa kiến thức cập nhật đi trọn vòng từ giảng đường đến giường bệnh và ra ngoài cộng đồng.
Nhìn vào hành trình của ba bác sĩ Việt Nam là BS.CK2 Đỗ Thị Ngọc Diệp, TS.BS Nguyễn Văn Vĩnh Châu và PGS.TS.BS Bùi Hữu Hoàng, có thể thấy rõ một thế hệ chuyên gia y tế mới: không chấp nhận giới hạn mình trong một vai trò duy nhất, mà cố ý xây dựng cầu nối giữa khám chữa bệnh, nghiên cứu và truyền thông khoa học. Họ không chỉ chữa một ca bệnh, mà đặt câu hỏi nghiên cứu từ ca bệnh đó, biến kết quả thành bài giảng, thành khuyến cáo, rồi thành thông điệp cho báo chí và người dân. Cách làm này mạnh hơn mọi khẩu hiệu về “y học dựa trên chứng cứ” vì chứng cứ được chính họ tạo ra và mang đi áp dụng.
Đỗ Thị Ngọc Diệp: Từ Nhi khoa tới bữa cơm gia đình
Gần 40 năm làm nghề, BS.CK2 Đỗ Thị Ngọc Diệp đi qua hai lĩnh vực tưởng tách biệt nhưng lại nối với nhau rất tự nhiên: Nhi khoa và Dinh dưỡng. Bà sinh năm 1963, tốt nghiệp bác sĩ chuyên ngành Nhi khoa tại Đại học Y Dược TPHCM năm 1986, hoàn thành BS.CK1 Nhi khoa năm 1993 và BS.CK2 Nhi khoa năm 2002. Hơn 20 năm đầu đời nghề gắn với bệnh viện và trẻ em giúp bà nhìn rất rõ một sự thật: không có dinh dưỡng, mọi nỗ lực điều trị Nhi khoa đều thiếu nền.
Bước ngoặt đến khi bà chuyển sang Trung tâm Dinh dưỡng TPHCM và dần trở thành gương mặt quen thuộc của dinh dưỡng cộng đồng tại thành phố. Hiện bà là Chủ tịch Hội Dinh dưỡng Thực phẩm TPHCM, Phó Chủ tịch Hội Dinh dưỡng Việt Nam, tham gia giảng dạy và hoạt động trong dinh dưỡng lâm sàng lẫn cộng đồng. Điểm đáng nói là cách bà coi mọi kiến thức hàn lâm phải được “dịch” thành bữa ăn cụ thể: các khuyến nghị năng lượng, protein hay vi chất vô nghĩa nếu người dân không biết biến chúng thành món ăn trên bàn.
Một trong những vấn đề bà đặc biệt quan tâm là sự thiếu hụt nhân lực chuyên ngành dinh dưỡng; nhiều năm liền, hệ thống y tế phải dựa vào bác sĩ hoặc cán bộ ngành khác được đào tạo bổ sung dù nhu cầu dinh dưỡng lâm sàng và cộng đồng ngày càng tăng. Ở các hội nghị, bà nhấn mạnh vai trò thế hệ cử nhân dinh dưỡng trẻ như lực lượng nòng cốt để ngành này phát triển chuyên nghiệp hơn. Quan điểm này rất thẳng: nếu không coi dinh dưỡng là một nghề độc lập, chúng ta sẽ tiếp tục loay hoay với suy dinh dưỡng, thừa cân và bệnh mạn tính ngay từ bữa cơm nhà.
Nguyễn Văn Vĩnh Châu: Ba mươi năm trên đường biên dịch bệnh
Hơn ba thập kỷ gắn với bệnh truyền nhiễm, TS.BS Nguyễn Văn Vĩnh Châu đi qua nhiều vai trò từ bác sĩ lâm sàng, nhà nghiên cứu, Giám đốc Bệnh viện Bệnh Nhiệt đới đến Phó Giám đốc Sở Y tế TPHCM. Từ năm 1994, ông công tác tại Bệnh viện Bệnh Nhiệt đới TPHCM, chọn một lĩnh vực mà bản chất luôn là sự bất định, từ sốt xuất huyết đến bệnh mới nổi. Năm 2009, ông hoàn thành chương trình Tiến sĩ tại The Open University với luận án về cơ chế bệnh sinh sốt xuất huyết dengue ở người trưởng thành Việt Nam – đó là một ví dụ điển hình của nghiên cứu lâm sàng xuất phát từ thực tế bệnh viện.
Trên cương vị Giám đốc Bệnh viện Bệnh Nhiệt đới từ 2011 đến 2021, ông phải biến một bệnh viện tuyến cuối thành nơi có khả năng ứng phó dịch quy mô lớn. Sự kiện tháng 6/2021, khi chính bệnh viện xuất hiện chùm ca SARS-CoV-2 trong nhân viên, phơi bày một điểm yếu: hệ thống tập trung phòng vệ rất kỹ ở khối điều trị nhưng lại hở ở khu vực hậu cần. Thay vì che giấu, ông thừa nhận công khai, và đó là bài học thực tế về an toàn hệ thống – thứ mà nhiều tài liệu giáo khoa không nói kỹ.
Ngày 25/9/2026, ông được bầu giữ chức Phó Chủ tịch Hiệp hội Y học TPHCM nhiệm kỳ 2026-2031, đồng thời là Phó Giám đốc Sở Y tế TPHCM, Chủ tịch Hội Truyền nhiễm TPHCM và Phó Chủ tịch Hội Truyền nhiễm Việt Nam. Từ đây, câu hỏi của ông không còn là cứu một khoa, một bệnh viện, mà là: làm sao cả thành phố có khả năng chống chịu dịch bệnh tương lai. Điều này có ý nghĩa khi thách thức dịch bệnh hiện đại hiếm khi chỉ thuộc trách nhiệm của riêng chuyên ngành truyền nhiễm; COVID-19 cần sự tham gia của hồi sức, hô hấp, tim mạch, huyết học, nhi khoa, sản khoa, phục hồi chức năng và y tế công cộng.

Bùi Hữu Hoàng: Giữ nhịp gan mật giữa bệnh viện, giảng đường và hội nghề
Gần 40 năm gắn với Nội Tiêu hóa – Gan mật, PGS.TS.BS Bùi Hữu Hoàng đi qua nhiều vai trò: bác sĩ điều trị, giảng viên, trưởng khoa, nhà nghiên cứu và lãnh đạo hội chuyên ngành. Ông tốt nghiệp bác sĩ đa khoa năm 1987, hoàn thành bác sĩ nội trú và chuyên khoa I Nội Tiêu hóa năm 1991, bảo vệ Tiến sĩ năm 2005 và được công nhận Phó Giáo sư năm 2012. Hành trình đào tạo tương đối “thẳng hàng” nhưng môi trường làm việc thì đa dạng, từ Bệnh viện Chợ Rẫy đến Bệnh viện Đại học Y Dược TPHCM.
Hiện lịch chuyên môn của ông tập trung vào bệnh Tiêu hóa – Gan mật, viêm gan, ung bướu gan mật và ghép gan tại Bệnh viện Đại học Y Dược TPHCM. Song hành với đó là hơn ba thập kỷ giảng dạy tại Bộ môn Nội, nơi ông là giảng viên cao cấp và từng là Trưởng Phân môn Tiêu hóa. Các hướng nghiên cứu của ông trải rộng từ bệnh dạ dày – ruột đến gan mật, với trọng tâm là những bệnh có gánh nặng lớn tại Việt Nam. H. pylori là ví dụ điển hình: khi đề kháng kháng sinh tăng, câu hỏi không còn là “có diệt vi khuẩn hay không” mà là chọn phác đồ phù hợp với mô hình đề kháng và đặc điểm chuyển hóa thuốc từng bệnh nhân.
Ông hiện là Phó Chủ tịch Hiệp hội Y học TPHCM, Chủ tịch Hội Gan Mật TPHCM, tiếp tục kết nối thực hành lâm sàng với đào tạo và cập nhật khoa học cho cộng đồng thầy thuốc. Các chương trình của Hội Gan Mật TPHCM những năm gần đây tập trung vào cập nhật viêm gan virus, bệnh gan chuyển hóa, xơ gan, ung thư gan và các hướng điều trị mới. Nếu nhìn xuyên suốt hành trình ấy, dấu ấn không nằm ở một kỹ thuật đơn lẻ, mà ở cách một bác sĩ đưa câu hỏi từ người bệnh vào nghiên cứu, đưa kết quả nghiên cứu trở lại thực hành rồi truyền đạt cho các thế hệ bác sĩ tiếp theo.
Từ ba cá nhân đến một mô hình nghề nghiệp cho bác sĩ Việt Nam
Điểm chung dễ thấy ở ba bác sĩ Việt Nam này là họ đều chọn con đường khó: gắn lâm sàng với nghiên cứu lâm sàng, giáo dục y học và truyền thông khoa học. BS.CK2 Đỗ Thị Ngọc Diệp không dừng ở phòng khám trẻ em mà mở rộng sang dinh dưỡng cộng đồng, tham gia hơn 40 nghiên cứu khoa học và soạn nhiều tài liệu chuyên ngành. TS.BS Nguyễn Văn Vĩnh Châu đưa kiến thức từ các hợp tác quốc tế về dengue, bệnh truyền nhiễm mới nổi vào hệ thống bệnh viện và sau đó là chính sách ở cấp thành phố. PGS.TS.BS Bùi Hữu Hoàng thì duy trì nhịp điệu ba trụ cột: điều trị, giảng dạy, nghiên cứu trong suốt gần bốn thập kỷ.
Một câu hỏi hiện ra cho thế hệ bác sĩ trẻ là: chúng ta có chấp nhận một mô hình nghề nghiệp chỉ quanh quẩn trong một phòng khám, hay sẽ chọn con đường rộng hơn, nơi mỗi ca bệnh là một bài học nghiên cứu, mỗi bài giảng là một hành động phòng bệnh? Khi truyền thông khoa học được làm bởi chính người trực tiếp khám chữa bệnh, thông điệp sức khỏe đến với người dân sẽ bớt cảm tính, bớt tin đồn và bớt lệ thuộc vào mạng xã hội. Kết luận không khó: nếu muốn hệ thống y tế vững hơn trước suy dinh dưỡng, bệnh mạn tính và dịch bệnh tương lai, chúng ta cần nhiều hơn những bác sĩ Việt Nam biết bước ra khỏi phòng khám, như ba gương mặt được nhắc đến trong bài viết này.






