Mạng lưới mới cần bắt đầu từ chất lượng
Du lịch y tế là mô hình kết hợp khám, chữa bệnh với lưu trú, nghỉ dưỡng và các dịch vụ chăm sóc sức khỏe trong một hành trình đáp ứng nhu cầu của người bệnh. Giá trị của mô hình không nằm ở việc ghép một chuyến tham quan vào lịch khám, mà ở khả năng cung cấp dịch vụ an toàn, liên tục và phù hợp với tình trạng sức khỏe.
Bộ Y tế đã gửi các bộ, ngành lấy ý kiến về dự thảo đề án phát triển du lịch y tế giai đoạn 2026-2030, cụ thể hóa chủ trương đưa lĩnh vực này thành một hướng phát triển mũi nhọn. Dự thảo chọn Hà Nội, Thành phố Hồ Chí Minh, Hải Phòng, Quảng Ninh, Đà Nẵng, Huế, Khánh Hòa và An Giang, gồm đặc khu Phú Quốc, làm các điểm đến y tế trọng điểm.
Đây là lựa chọn có lý, nhưng danh sách tám địa phương mới chỉ là điểm xuất phát. Năng lực bệnh viện, chất lượng chuyên môn, cơ sở vật chất, giao thông, lưu trú và nhu cầu thị trường sẽ quyết định nơi nào có thể phục vụ khách một cách đáng tin cậy. Mục tiêu đến năm 2030 là có ít nhất 20 bệnh viện đạt chứng nhận chất lượng theo tiêu chuẩn quốc tế, trong đó tối thiểu 5 bệnh viện công lập.

Danh mục dịch vụ rộng, nhưng phải có trọng tâm
Dự thảo hướng đến nhiều nhóm dịch vụ: khám sức khỏe, tầm soát và phát hiện sớm bệnh; nha khoa, hỗ trợ sinh sản và điều trị chuyên sâu; y học cổ truyền, phục hồi chức năng, chăm sóc nâng cao sức khỏe, nghỉ dưỡng và chăm sóc người cao tuổi. Một số chuyên khoa được nhắm tới còn có ngoại khoa, chấn thương chỉnh hình, cơ xương khớp và điều trị ung bướu kỹ thuật cao.
Độ rộng ấy có thể thu hút nhiều nhóm khách, nhưng ôm đồm mọi loại hình sẽ làm loãng nguồn lực. Mỗi địa phương nên chọn dịch vụ dựa trên chuyên môn sẵn có và khả năng phối hợp với lưu trú, vận chuyển, phiên dịch, tư vấn trước và sau điều trị. Một quy trình xuyên suốt từ đặt lịch, tiếp nhận, điều trị đến thanh toán và theo dõi sau điều trị sẽ thiết thực hơn lời quảng bá chung chung.
Với người bệnh, thông tin về chất lượng và chi phí cần được công khai, minh bạch, cung cấp bằng nhiều ngôn ngữ để họ có thể lựa chọn và chuẩn bị trước. Thành công cũng không thể đánh đổi bằng quá tải: phục vụ khách quốc tế không được làm giảm chất lượng điều trị hay hạn chế cơ hội tiếp cận dịch vụ của người dân trong nước.
Bệnh viện công và tư cần chia sẻ đúng vai
Bệnh viện công có lợi thế về đội ngũ chuyên môn và năng lực điều trị các ca phức tạp, nhưng cần nâng chất lượng chăm sóc, hạ tầng và quản trị để đáp ứng kỳ vọng của khách quốc tế. Bệnh viện Bạch Mai đang hướng tới các chuẩn chất lượng quốc tế, trong đó có định hướng triển khai JCI.
Bệnh viện tư có thể bổ sung thiết bị, nhân lực và dịch vụ tiếp đón, chăm sóc đồng bộ. Đây là cơ hội để bệnh viện công tư ghép thế mạnh thay vì cạnh tranh bằng những lời hứa tương tự: cơ sở công đảm nhận chuyên môn phù hợp, còn khu vực tư góp phần tổ chức trải nghiệm thuận tiện, chăm sóc và hỗ trợ khách. Tuy vậy, dịch vụ hỗ trợ không thể thay thế tiêu chuẩn lâm sàng; mọi bên cùng tham gia phải minh bạch về chất lượng và trách nhiệm.
Sự phối hợp còn phải mở rộng ra ngoài bệnh viện. Trường hợp Huế cho thấy khách có thể tự xoay xở để ghép khám, nghỉ dưỡng và trị liệu, trong khi sản phẩm trọn gói vẫn thiếu vì kết nối giữa cơ sở y tế, spa và doanh nghiệp lữ hành chưa chặt. Nếu không có đầu mối điều phối, tiềm năng dễ dừng ở những dịch vụ rời rạc.

Huế cho thấy tiềm năng chỉ thành sản phẩm khi có liên kết
Huế có hệ thống y tế chuyên sâu, dịch vụ khám chữa bệnh và phục hồi chức năng, cùng nền y học cổ truyền gắn với Thái y viện triều Nguyễn. Thành phố còn có cơ sở nghỉ dưỡng, suối khoáng nóng và các trải nghiệm chăm sóc thể chất, tinh thần. Sự kết hợp này tạo lợi thế riêng cho cả du lịch y tế lẫn du lịch chăm sóc sức khỏe, nhưng chưa tự động tạo thành một hành trình hoàn chỉnh.
Giữa tháng 9/2026, Trung tâm Bảo tồn Di tích Cố đô Huế, Bệnh viện Đa khoa Quốc tế Huế, Hò Lơ Travel và Vietravel Huế ký kết hợp tác, ra mắt hệ sinh thái du lịch chăm sóc sức khỏe. Đây là bước đi đáng chú ý vì đưa các đơn vị y tế, lữ hành và văn hóa vào cùng một cấu trúc phối hợp. Giá trị của mô hình sẽ được chứng minh qua khả năng biến thế mạnh chuyên khoa, y học cổ truyền và nghỉ dưỡng thành sản phẩm dễ tiếp cận, an toàn cho từng nhóm khách.
Lộ trình dự kiến cũng đòi hỏi làm từng bước: giai đoạn 2026-2027 tập trung chuẩn bị điều kiện, chọn sản phẩm và địa bàn; năm 2028 triển khai tại các địa phương được lựa chọn và sơ kết; giai đoạn 2029-2030 hoàn thiện, nhân rộng có chọn lọc mô hình hiệu quả. Mục tiêu không nên chỉ là đưa khách đến bệnh viện, mà là xây dựng dịch vụ có chất lượng, thuận tiện và không làm tổn hại quyền lợi người bệnh trong nước.







