Du lịch y tế cần lấy chất lượng điều trị làm gốc
Du lịch y tế là hình thức kết hợp khám, chữa bệnh hoặc chăm sóc sức khỏe với chuyến đi, trong đó chất lượng chuyên môn và an toàn người bệnh phải được đặt ngang hàng với trải nghiệm du lịch. Bộ Y tế đang lấy ý kiến các bộ, ngành về dự thảo quyết định phê duyệt Đề án “Phát triển du lịch y tế giai đoạn 2026–2030”, theo Công văn số 7869/BYT-KCB ngày 19/10/2026. Đây là bước cụ thể hóa các nghị quyết của Bộ Chính trị và Chính phủ, đồng thời đáp ứng xu hướng du khách muốn kết hợp nghỉ dưỡng với chăm sóc sức khỏe.
Hướng đi có tiềm năng, nhưng không thể biến danh sách điểm đến thành chiến dịch quảng bá trước khi có nền tảng điều trị đáng tin cậy. Mục tiêu đến năm 2030 là hình thành chuỗi dịch vụ chuyên nghiệp, an toàn, chất lượng cao và đủ sức cạnh tranh trong khu vực. Điều đó đòi hỏi chất lượng khám chữa bệnh phải là giá trị cốt lõi; cảnh quan đẹp hay dịch vụ nghỉ dưỡng chỉ có thể bổ trợ, không thay thế được năng lực y tế.

Tám địa phương được chọn, nhưng lợi thế phải được chứng minh
Dự thảo đề xuất Hà Nội, TP.HCM, Hải Phòng, Quảng Ninh, Đà Nẵng, Huế, Khánh Hòa và An Giang, trong đó có đặc khu Phú Quốc, làm các điểm đến du lịch y tế trọng điểm. Danh sách trải rộng từ các trung tâm đô thị, nơi có khả năng cung cấp dịch vụ chuyên sâu, đến các địa phương có lợi thế nghỉ dưỡng. Tuy vậy, được đề xuất không đồng nghĩa đã sẵn sàng đón khách quốc tế: việc chọn địa bàn triển khai còn dựa trên năng lực cung ứng, chuyên môn, cơ sở vật chất, tài nguyên du lịch, giao thông, lưu trú và nhu cầu thị trường.
Khánh Hòa là một trong tám địa phương và đang định hướng gắn chăm sóc sức khỏe với nghỉ dưỡng, y học cổ truyền, phục hồi chức năng cùng lợi thế biển đảo. Tỉnh đặt mục tiêu phát triển tối thiểu 20 sản phẩm, gói dịch vụ kết hợp khám chữa bệnh, nghỉ dưỡng và chăm sóc sức khỏe đến năm 2030. Đây là hướng đi phù hợp với du lịch Khánh Hòa, nhưng để trở thành điểm đến chữa bệnh có uy tín, tỉnh vẫn cần chứng minh chất lượng lâm sàng, năng lực tiếp nhận khách quốc tế và sự phối hợp thực chất giữa cơ sở y tế với doanh nghiệp du lịch.

Bệnh viện quốc tế và dịch vụ xuyên suốt là thước đo
Mục tiêu chung là đến năm 2030 có ít nhất 20 bệnh viện đạt chứng nhận chất lượng theo tiêu chuẩn quốc tế, trong đó tối thiểu 5 bệnh viện công lập. Đây là thước đo quan trọng hơn số lượng gói tour hay chiến dịch tiếp thị: chứng nhận tạo cơ sở để khách hàng đánh giá chất lượng, còn bệnh viện công có vai trò giúp lợi ích của đề án không chỉ tập trung ở khu vực tư nhân. Các sản phẩm dự kiến gồm khám sức khỏe, tầm soát, nha khoa, hỗ trợ sinh sản, điều trị chuyên sâu, y học cổ truyền, phục hồi chức năng và chăm sóc người cao tuổi.
Trải nghiệm của người bệnh cũng không kết thúc ở phòng khám. Dự thảo hướng tới quy trình liền mạch từ tư vấn, đặt lịch, tiếp nhận và điều trị đến thanh toán, theo dõi sau điều trị. Thông tin về chất lượng và chi phí cần được công khai bằng nhiều ngôn ngữ; chính sách thị thực, lưu trú, thanh toán quốc tế và bảo lãnh viện phí cũng cần thuận tiện hơn. Với người bệnh, minh bạch giúp họ cân nhắc và chuẩn bị trước; với bệnh viện, nhân lực ngoại ngữ và phiên dịch y khoa là điều kiện phục vụ, không phải phần trang trí.
Mở cửa đón khách nhưng không làm giảm khả năng tiếp cận của người dân
Đề án dự kiến triển khai theo từng bước: giai đoạn 2026–2027 thiết lập điều kiện, lựa chọn sản phẩm và địa bàn; năm 2028 triển khai tại các địa phương được chọn và sơ kết; giai đoạn 2029–2030 hoàn thiện, nhân rộng có chọn lọc các mô hình hiệu quả. Lộ trình này hợp lý nếu đánh giá kết quả bằng chất lượng điều trị, an toàn và trải nghiệm người bệnh, thay vì chỉ đếm lượng khách.
Điểm cần giữ vững là phát triển du lịch y tế không được làm suy giảm chất lượng khám chữa bệnh hay khả năng tiếp cận dịch vụ của người dân trong nước. Nếu bệnh viện ưu tiên khách quốc tế bằng cách kéo dài thời gian chờ hoặc thu hẹp nguồn lực dành cho bệnh nhân trong nước, mục tiêu thương hiệu sẽ phản tác dụng. Vì vậy, thành công không nằm ở việc tám địa phương cùng quảng bá, mà ở chỗ mỗi nơi xây dựng được dịch vụ có chuyên môn đáng tin, quy trình minh bạch và cơ chế bảo vệ người bệnh. Đó mới là nền tảng để Việt Nam cạnh tranh bền vững.






