Mở cửa có lộ trình, thay vì nới lỏng đại trà
Sửa đổi Luật Đầu tư Việt Nam là việc điều chỉnh khung pháp lý về hoạt động đầu tư, trong đó có điều kiện để nhà đầu tư nước ngoài vào các ngành, nghề tại Việt Nam, nhằm vừa khơi thông nguồn lực vừa bảo đảm lợi ích phát triển trong nước. Đây là hướng đi cần thiết, nhưng tốc độ mở cửa phải dựa trên đánh giá tác động chứ không chạy theo cạnh tranh ưu đãi. Sáng 24/10, các đại biểu Quốc hội thảo luận dự án sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Đầu tư và tán thành sự cần thiết khơi thông nguồn lực, nâng chất lượng đầu tư. Dự thảo bổ sung quy định nới điều kiện tiếp cận thị trường FDI; Ủy ban Kinh tế và Tài chính cơ bản đồng tình với định hướng này, đồng thời nhấn mạnh phải thực hiện theo lộ trình phù hợp, công khai, minh bạch và đánh giá đầy đủ tác động. Cách tiếp cận ấy hợp lý hơn mở cửa đồng loạt: mỗi bước nới phải có căn cứ và tiêu chí rõ ràng.
Tăng trưởng cần vốn, nhưng cạnh tranh khu vực đòi hỏi cải cách
Lý do sửa luật không chỉ là cải thiện thủ tục. Việt Nam đặt mục tiêu tăng trưởng hai con số trong bối cảnh nhu cầu vốn giai đoạn 2026–2030 được dự báo gấp 2,67 lần giai đoạn 2021–2025, đặc biệt cần thêm vốn FDI. Theo kế hoạch tài chính 5 năm được Bộ trưởng Bộ Tài chính Ngô Văn Tuấn nêu, tổng vốn đầu tư toàn xã hội cần đạt 40% GDP để phục vụ mục tiêu tăng trưởng này. Trong khi đó, các nền kinh tế trong khu vực cũng cạnh tranh quyết liệt để thu hút dự án ở những lĩnh vực Việt Nam hướng tới, như bán dẫn và điện tử. Vì vậy, cải cách kinh tế Việt Nam phải làm cho môi trường đầu tư dễ tiếp cận, dễ dự đoán và nhất quán hơn. Tuy nhiên, thu hút đầu tư nước ngoài không thể được đánh giá chỉ bằng lượng vốn đăng ký; chất lượng, hiệu quả sử dụng vốn và đóng góp cho năng lực sản xuất trong nước cũng phải là thước đo.

Thoát “ốc đảo” FDI bằng liên kết có kết quả đo được
Nới cửa thị trường mà không cải thiện liên kết trong nước sẽ chỉ làm lớn thêm một khu vực FDI tách biệt. Các đại biểu lưu ý rằng doanh nghiệp FDI gắn chặt với chuỗi cung ứng toàn cầu nhưng kết nối với doanh nghiệp trong nước còn hạn chế, tạo nên tình trạng “ốc đảo”. Đây là điểm yếu mà luật sửa đổi cần xử lý bằng công cụ cụ thể, không phải lời kêu gọi chung chung. Dự thảo đã đề cập việc khuyến khích doanh nghiệp có vốn nước ngoài công bố nhu cầu mua sắm, tiêu chuẩn kỹ thuật và lộ trình nội địa hóa. Nhưng ưu đãi nên gắn với việc công bố và thực hiện cam kết; song song, doanh nghiệp Việt cần được hỗ trợ trực tiếp để đáp ứng tiêu chuẩn và trở thành nhà cung cấp. Cần xác định đầu ra, thời điểm đánh giá và chứng cứ kiểm chứng cho từng khoản hỗ trợ. Như vậy, tiếp cận thị trường FDI mới tạo điều kiện để doanh nghiệp nội địa cạnh tranh và tham gia sâu hơn vào chuỗi giá trị.

Ưu đãi có chọn lọc mới tạo bước chuyển
Việt Nam vẫn cần FDI: khu vực này đóng góp khoảng 82% tổng kim ngạch xuất nhập khẩu toàn quốc, theo thông tin Bộ trưởng Bộ Tài chính nêu khi giải trình về dự án luật. Nhưng quy mô đóng góp ấy không tự bảo đảm chuyển giao công nghệ, đào tạo nhân lực hay cơ hội cho nhà cung cấp nội địa. Do đó, hướng đi đúng là thu hút đầu tư nước ngoài có chọn lọc và gắn hỗ trợ với yêu cầu cụ thể, thay vì dựa chủ yếu vào ưu đãi thuế truyền thống. Chính phủ cũng cần bảo đảm các quy định đầu tư đồng bộ với pháp luật chuyên ngành để tránh vướng mắc khi thực hiện. Sau khi tiếp tục thảo luận tại hội trường, dự án luật dự kiến được Quốc hội biểu quyết thông qua vào cuối Kỳ họp thứ hai. Kết quả cải cách không nên chỉ được tính bằng số dự án mới: thước đo thuyết phục hơn là doanh nghiệp Việt có thêm năng lực, đơn hàng và vị trí trong chuỗi cung ứng.






