Một chuẩn chung, không phải một thước đo duy nhất
Đề kiểm tra chung là đề kiểm tra định kỳ do Sở Giáo dục và Đào tạo chủ trì xây dựng, thẩm định và cung cấp cho học sinh lớp 5, 9, 12 ở một số môn đánh giá bằng điểm số. Theo Thông tư 89/2026/TT-BGDĐT, quy định này có hiệu lực từ ngày 1.12.2026 và các môn áp dụng sẽ do sở lựa chọn, thông báo trước khi thực hiện. Với học sinh cuối cấp, đây là thay đổi đáng chú ý bởi các lớp này gắn với chuyển cấp và định hướng học tập tiếp theo. Kỳ vọng hợp lý nhất là giảm chênh lệch do mỗi trường tự ra đề: cùng ma trận, yêu cầu cần đạt và phạm vi sẽ giúp kết quả có thể đối chiếu rõ hơn. Nhưng chuẩn hóa không đồng nghĩa với việc một bài kiểm tra có thể đại diện cho toàn bộ năng lực hay chất lượng dạy học. Đề chung chỉ có ích nếu kết quả được dùng để điều chỉnh việc dạy và học, thay vì trở thành bảng xếp hạng.
Khách quan hơn là điều giáo viên, học sinh mong đợi
Giáo viên và học sinh đều đặt kỳ vọng vào tính thống nhất, khách quan của kiểm tra cuối kỳ. Một học sinh lớp 12 ở Hà Tĩnh mong cấu trúc và mức độ đề phù hợp chương trình để các trường được đánh giá trên cùng mặt bằng; kết quả cũng giúp em nhận ra phần kiến thức còn yếu và điều chỉnh cách học trước kỳ thi tốt nghiệp THPT. Giáo viên kỳ vọng đề bám yêu cầu chương trình, đánh giá được năng lực vận dụng chứ không chỉ khả năng ghi nhớ. Đề do sở chủ trì có thể hạn chế tình trạng nơi ra đề quá dễ, nơi quá khó, đồng thời giảm gánh nặng biên soạn và thẩm định riêng ở từng trường. Tuy nhiên, tính khách quan không tự xuất hiện chỉ vì mọi học sinh làm cùng một đề. Nó phụ thuộc vào chất lượng câu hỏi, độ phù hợp với nội dung đã học và cách diễn giải kết quả. Nếu các điều kiện ấy không được bảo đảm, “cùng đề” chỉ tạo vẻ bình đẳng chứ chưa chắc đánh giá công bằng.
Cùng đề vẫn có thể tạo áp lực không giống nhau
Băn khoăn lớn nằm ở khoảng cách giữa một đề thống nhất và những điều kiện học tập không đồng nhất. Tiến độ dạy, cách tổ chức chủ đề, đầu vào học sinh và điều kiện của mỗi trường có thể khác nhau. Học sinh lo đề của sở khó hơn đề quen thuộc ở trường; một số em còn sợ kiến thức trên lớp không bao quát cấu trúc đề và tìm đến các lớp học thêm. Nếu đề vượt quá mức học sinh được chuẩn bị, điểm thấp có thể đẩy áp lực sang cả người học lẫn giáo viên, kéo theo luyện đề và chạy theo thành tích. Vì vậy, sở cần công bố sớm ma trận, phạm vi kiểm tra và lịch thi; đồng thời bảo đảm bảo mật, thống nhất tiến độ nội dung trước khi tổ chức. Sự chuẩn bị rõ ràng không làm mất tính phân hóa của đề, mà giúp học sinh biết mình cần học gì, giảm nỗi lo do phải đoán cấu trúc.
Dùng dữ liệu để hỗ trợ, không để xếp hạng
Giá trị của đề chung nên được đo bằng khả năng chỉ ra học sinh đang vướng ở đâu và nhà trường cần hỗ trợ thế nào, không phải trường nào đứng cao hơn trong một bảng điểm. Điểm số một kỳ chỉ là một chỉ báo; khi phân tích, cần xét đặc điểm học sinh, điều kiện dạy học và tiến bộ của các em. Dữ liệu theo môn, nhóm năng lực và yêu cầu cần đạt có thể giúp tổ chuyên môn điều chỉnh phương pháp, phụ đạo học sinh còn hổng kiến thức và bồi dưỡng em cần thử thách thêm. Với học sinh cuối cấp, phản hồi hữu ích có thể giúp các em điều chỉnh kế hoạch học tập, thay vì chỉ tạo thêm một cột mốc để lo lắng. Sở cũng cần giải thích rõ mục đích sử dụng kết quả và tránh dùng điểm trung bình để quy kết chất lượng giáo viên hay nhà trường. Đề chung chỉ đáng ủng hộ khi đi cùng cách đánh giá có trách nhiệm: thống nhất về chuẩn, linh hoạt trước khác biệt và đặt sự tiến bộ của người học lên trước.






