Từ “đề tài” sang “sản phẩm”: cú chuyển hướng mang tính quyết định
Công nghệ chiến lược Việt Nam là tập hợp những công nghệ và sản phẩm công nghệ lõi gắn với năng lực cạnh tranh dài hạn, được Nhà nước xác định ưu tiên đầu tư, tổ chức theo chương trình đổi mới sáng tạo quốc gia đặc biệt để tạo ra sản phẩm có địa chỉ ứng dụng, giúp hệ thống doanh nghiệp từng bước làm chủ công nghệ và thâm nhập thị trường trong nước lẫn quốc tế. Chính vì vậy, điểm quan trọng nhất của bước chuyển hiện nay không phải ở việc có thêm bao nhiêu nhiệm vụ nghiên cứu mới, mà ở cách tư duy: Bộ Khoa học và Công nghệ yêu cầu chuyển rõ từ “đề xuất đề tài” sang “đề xuất sản phẩm”, gắn nhiệm vụ với cam kết nguồn lực và giải quyết bài toán cụ thể của thị trường. Nói cách khác, đo lường thành công bằng sản phẩm công nghệ chiến lược đã được ứng dụng, chứ không phải số văn bản phê duyệt.

Doanh nghiệp làm hạt nhân, nhà nước kiến tạo thay vì chỉ đạo từ trên xuống
Nếu trước đây hoạt động khoa học – công nghệ chủ yếu do các cơ quan quản lý “đặt đề tài” rồi phân bổ kinh phí, thì nay quỹ đạo đổi mới sáng tạo quốc gia chuyển sang mô hình nhà nước kiến tạo, doanh nghiệp làm hạt nhân, viện và trường là lực lượng nòng cốt tạo ra tri thức. Bộ trưởng Vũ Hải Quân nhấn mạnh cơ quan quản lý phải bắt đầu từ câu hỏi doanh nghiệp cần hỗ trợ gì, cần giải quyết vấn đề gì và cần ứng dụng công nghệ nào, đồng thời khẳng định “lấy doanh nghiệp làm hạt nhân để triển khai các nhiệm vụ khoa học, công nghệ”. Đây là sự đảo chiều quyền chủ động: doanh nghiệp không còn đứng ngoài các chương trình công nghệ chiến lược Việt Nam mà trở thành trung tâm đối với những công nghệ đã gần thị trường, còn viện nghiên cứu, trường đại học giữ vai trò đầu tàu ở giai đoạn phát triển ban đầu.

Đầu tư hạ tầng dùng chung: 8 phòng thí nghiệm chiến lược, 4 trung tâm thử nghiệm
Để làm chủ công nghệ, chỉ thay đổi cách ra đề bài là chưa đủ; Việt Nam chấp nhận tập trung nguồn lực lớn cho hạ tầng nghiên cứu và thử nghiệm. Theo các định hướng đã được công bố, Việt Nam dự kiến đầu tư khoảng 10.000 tỷ đồng để xây dựng 8 phòng thí nghiệm và 4 trung tâm thử nghiệm công nghệ chiến lược từ nay đến năm 2030. Điểm đáng chú ý là các phòng thí nghiệm chiến lược này sẽ được tổ chức theo mô hình dùng chung, mở cho viện nghiên cứu, trường đại học và doanh nghiệp cùng khai thác, tránh đầu tư dàn trải và rời rạc. Đây là lựa chọn có tính chính trị: thay vì mỗi đơn vị xin một dự án thiết bị riêng, hệ thống hạ tầng chung buộc các bên phải hợp tác, chia sẻ dữ liệu, đồng thời rút ngắn khoảng cách từ nghiên cứu, thử nghiệm đến sản phẩm công nghệ lõi có thể thương mại hóa.

Công khai, minh bạch và lấy thị trường làm thước đo
Một trong những điểm gây tranh luận nhiều năm qua là cơ chế phân bổ nhiệm vụ khoa học – công nghệ thiếu minh bạch, tạo ấn tượng “chạy theo số lượng”. Với chương trình công nghệ chiến lược, Bộ Khoa học và Công nghệ yêu cầu việc lựa chọn và tổ chức thực hiện nhiệm vụ phải bảo đảm công khai, minh bạch, dựa trên năng lực thực tế, không chạy theo số lượng nhiệm vụ hay quy mô kinh phí. Theo định hướng mới, thước đo cuối cùng không còn là số đề tài nghiệm thu, mà là năng lực làm chủ công nghệ lõi, sản phẩm được tạo ra, nguồn lực xã hội được huy động và khả năng đưa sản phẩm vào ứng dụng, thị trường. Điều này buộc các bên tham gia – từ bộ ngành, địa phương đến doanh nghiệp, viện, trường – phải tự chứng minh giá trị bằng kết quả cụ thể, chứ không thể dựa vào “thành tích hồ sơ”.

Thách thức phía trước: từ chính sách đến năng lực làm chủ công nghệ
Chương trình khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo quốc gia đặc biệt về công nghệ chiến lược đã được Thủ tướng phê duyệt cho giai đoạn 2026–2035, xác định doanh nghiệp là trung tâm, viện nghiên cứu và cơ sở giáo dục đại học là lực lượng nòng cốt, hướng tới phát triển các công nghệ và sản phẩm công nghệ chiến lược có khả năng ứng dụng, làm chủ và thương mại hóa. Bộ Khoa học và Công nghệ đang tiếp nhận đề xuất nhiệm vụ phát triển công nghệ chiến lược thuộc chương trình quốc gia đặc biệt đến trước ngày 30/9/2026. Tuy nhiên, để chính sách không dừng ở tuyên bố, các bộ ngành và địa phương phải đi sâu phân tích điểm nghẽn về công nghệ, nguồn lực, cơ chế, tiêu chuẩn, thị trường và tổ chức thực hiện để có phương án tháo gỡ phù hợp. Cơ hội làm chủ công nghệ chỉ thành hiện thực nếu hệ thống chấp nhận đánh đổi: ít nhiệm vụ hơn, nhưng tập trung, khó hơn và đo bằng sức cạnh tranh của sản phẩm trên thị trường.






