Làm chủ 10 công nghệ lõi: Việt Nam có dám đi đến cùng?

Làm chủ 10 công nghệ lõi: Việt Nam có dám đi đến cùng?
Sở thích|Đông Nam Á

Công nghệ chiến lược là gì và vì sao Việt Nam phải tự chủ?

Công nghệ chiến lược Việt Nam là nhóm công nghệ lõi, công nghệ nền tảng và sản phẩm công nghệ chiến lược mang tính quyết định đến năng lực tự chủ công nghệ quốc gia, khả năng tham gia chuỗi giá trị toàn cầu và sức cạnh tranh dài hạn của nền kinh tế, đặc biệt trong các lĩnh vực số, sinh học, năng lượng, an ninh và hạ tầng giao thông thế hệ mới.

Thông điệp chính sách lúc này rất rõ: nếu không làm chủ công nghệ chiến lược, Việt Nam sẽ mãi chỉ là nơi gia công, dễ bị tổn thương trước biến động địa chính trị và đứt gãy chuỗi cung ứng. Đó là bối cảnh Phó Thủ tướng Hồ Quốc Dũng ký Quyết định 1483/QĐ-TTg ngày 04/8/2026 phê duyệt Đề án phát triển hệ thống trung tâm nghiên cứu, thử nghiệm và phòng thí nghiệm trọng điểm quốc gia tập trung cho công nghệ chiến lược. Chỉ vài ngày sau, Quyết định 1493/QĐ-TTg ban hành Chương trình khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo quốc gia đặc biệt về công nghệ chiến lược. Hai văn bản này là cặp đôi chính sách thể hiện tham vọng công nghệ rõ nhất trong nhiều năm qua.

Làm chủ 10 công nghệ lõi: Việt Nam có dám đi đến cùng?

Mục tiêu đến 2030: 10 công nghệ lõi, 12 hạ tầng trọng điểm và hệ sinh thái doanh nghiệp

Tham vọng không dừng ở khẩu hiệu. Đề án hạ tầng đặt mục tiêu đến năm 2030 nâng cấp, đầu tư mới và vận hành tối thiểu 08 phòng thí nghiệm trọng điểm quốc gia trong các lĩnh vực như công nghệ số, mạng di động thế hệ sau, robot và tự động hóa, sinh học và y sinh tiên tiến, năng lượng và vật liệu tiên tiến, an ninh mạng và lượng tử, biển – đại dương – lòng đất, hàng không và vũ trụ; đồng thời hình thành tối thiểu 04 trung tâm nghiên cứu, thử nghiệm quốc gia về thiết bị bay không người lái, sinh học và y sinh, vật liệu, đường sắt tốc độ cao và đường sắt đô thị. Nói cách khác, một mạng lưới trung tâm nghiên cứu quốc gia hiện đại đang được thiết kế như “xương sống” cho công nghệ chiến lược.

Quan trọng hơn, Việt Nam đặt mục tiêu làm chủ tối thiểu 10 công nghệ lõi phục vụ trực tiếp sản phẩm công nghệ chiến lược và các bài toán lớn quốc gia. Ở cấp chương trình, giai đoạn 2026-2030, mục tiêu cụ thể là làm chủ tối thiểu 4 công nghệ chiến lược trong Danh mục Thủ tướng ban hành, phát triển và thương mại hóa ít nhất 15 sản phẩm công nghệ chiến lược, trong đó tối thiểu 5 sản phẩm được thương mại hóa ở thị trường khu vực hoặc quốc tế. Đây là chỉ tiêu có thể đo đếm, nhưng điều đáng nói hơn là định hướng: công nghệ chiến lược phải ra sản phẩm, ra doanh nghiệp, chứ không dừng ở công bố khoa học.

Làm chủ 10 công nghệ lõi: Việt Nam có dám đi đến cùng?

Ngân sách nhà nước chi bao nhiêu và chi theo cách nào?

Nếu trước đây, nhiều chương trình khoa học bị phê phán vì dàn trải, thì lần này Nhà nước chọn cách “dồn lực vào chỗ mang tính sống còn”. Theo Thông tư 49/2026, ngân sách nhà nước hỗ trợ tối đa 100% kinh phí đối với nhiệm vụ do Nhà nước đặt hàng; nhiệm vụ nghiên cứu, làm chủ công nghệ lõi, công nghệ nền tảng hoặc công nghệ có ý nghĩa đặc biệt quan trọng cho tự chủ công nghệ quốc gia, quốc phòng, an ninh; cũng như nhiệm vụ có mức độ rủi ro cao về khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo. Đây là lựa chọn chính trị rõ ràng: Nhà nước sẵn sàng gánh phần rủi ro lớn nhất.

Với nhiệm vụ phát triển sản phẩm công nghệ chiến lược có khả năng ứng dụng và thương mại hóa, ngân sách hỗ trợ tối đa 70%, phần còn lại là kinh phí đối ứng. Điều đáng chú ý là kinh phí đối ứng không chỉ là tiền mà còn gồm máy móc, thiết bị, dây chuyền, phòng thí nghiệm, cơ sở thử nghiệm, quyền sở hữu trí tuệ và phần mềm. Cách thiết kế này buộc doanh nghiệp và tổ chức khoa học phải “có da có thịt” trong cuộc chơi, đồng thời khuyến khích sử dụng hiệu quả hạ tầng sẵn có thay vì xin – cho thêm. Đây là một bước rời khỏi tư duy “xin đề tài – nhận tiền ngân sách – xong là thôi” vốn kéo dài nhiều năm.

Làm chủ 10 công nghệ lõi: Việt Nam có dám đi đến cùng?

Ba yêu cầu cốt lõi và mô hình mới Nhà nước – viện trường – doanh nghiệp

Chương trình đặc biệt về công nghệ chiến lược không chỉ khác ở đích đến mà còn ở cách vận hành. Thứ trưởng Bộ KH&CN Lê Xuân Định nhấn mạnh ba yêu cầu cốt lõi phải được quán triệt từ khâu xác định, triển khai đến đánh giá nhiệm vụ: thống nhất cách hiểu, cách làm và trách nhiệm tổ chức thực hiện. Nếu không thống nhất, mỗi nơi hiểu một kiểu “công nghệ chiến lược”, chương trình sẽ lại trượt vào bệnh hình thức. Cùng với đó, quy định mới yêu cầu quản lý theo kết quả đầu ra, chia nhiệm vụ thành các gói công việc gắn với mục tiêu, sản phẩm, chỉ tiêu kỹ thuật, kinh phí, tiến độ và trách nhiệm cụ thể. Đây là chuyển đổi quan trọng từ quản lý thủ tục sang quản lý kết quả.

Một điểm đáng tranh luận nhưng cũng đáng kỳ vọng là mô hình mới: Nhà nước đặt bài toán, viện trường phát triển công nghệ lõi, doanh nghiệp làm chủ sản phẩm và thị trường kiểm chứng. “Chương trình khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo quốc gia đặc biệt về công nghệ chiến lược mở ra cách tiếp cận mới: Nhà nước đặt bài toán, viện trường phát triển công nghệ lõi, doanh nghiệp làm chủ sản phẩm và thị trường kiểm chứng.” Về bản chất, đây là một dạng “tam giác đổi mới” – nếu một đỉnh yếu, cả hệ thống sẽ lỏng. Việt Nam từng có nhiều “tam giác” trên giấy; lần này, thách thức là biến nó thành chuỗi giá trị thực mà ở đó, doanh nghiệp không chỉ là “đối tượng thụ hưởng” mà là chủ thể dẫn dắt.

Làm chủ 10 công nghệ lõi: Việt Nam có dám đi đến cùng?

Từ 2030 đến 2035: Làm chủ công nghệ đo bằng sản phẩm, không bằng khẩu hiệu

Tầm nhìn không dừng ở 2030. Theo lộ trình, đến năm 2035, mục tiêu là tiếp tục nâng cấp và hình thành hệ thống các trung tâm nghiên cứu, thử nghiệm và phòng thí nghiệm trọng điểm quốc gia hiện đại, kết nối với mạng lưới hạ tầng nghiên cứu tiên tiến trong khu vực và quốc tế, từng bước nâng cao năng lực làm chủ công nghệ lõi cho nhu cầu nghiên cứu, phát triển, thử nghiệm và sản xuất thử sản phẩm công nghệ chiến lược. Ở phía chương trình nhiệm vụ, giai đoạn 2031-2035, mục tiêu là làm chủ 6 công nghệ chiến lược và phát triển tối thiểu 25 sản phẩm công nghệ chiến lược, trong đó ít nhất 15 sản phẩm được thương mại hóa trên thị trường quốc tế hoặc khu vực.

Thông điệp xuyên suốt là: công nghệ chiến lược được đo bằng sản phẩm, bằng khả năng làm chủ công nghệ lõi và công nghệ nền tảng, chứ không phải số hội thảo hay báo cáo tổng kết. Nếu đến 2030 Việt Nam thực sự làm chủ được tối thiểu 10 công nghệ lõi và có một mạng lưới trung tâm nghiên cứu quốc gia vận hành hiệu quả, tỉ lệ nội địa hóa sản phẩm công nghệ chiến lược quanh 40%, cùng hàng chục doanh nghiệp tham gia chuỗi giá trị toàn cầu như mục tiêu đề ra, thì đó không chỉ là thành tựu khoa học mà là bước dịch chuyển vị thế quốc gia. Câu hỏi còn lại không phải “có nên làm không”, mà là “có dám kiên trì đến cùng, đủ kỷ luật và minh bạch để biến chương trình này thành hiện thực hay không”.

Làm chủ 10 công nghệ lõi: Việt Nam có dám đi đến cùng?

Sammfy nhận hoa hồng khi bạn mua sắm qua liên kết của chúng tôi, bạn không phải trả thêm chi phí.

You May Also Like

Comments
Viết gì đó...
Chưa có bình luận nào. Hãy là người đầu tiên chia sẻ suy nghĩ!