Việt Nam đặt mục tiêu làm chủ 10 công nghệ lõi

Việt Nam đặt mục tiêu làm chủ 10 công nghệ lõi
Sở thích|Đông Nam Á

Mục tiêu làm chủ công nghệ lõi: bước chuyển từ gia công sang sáng tạo

Chiến lược công nghệ lõi Việt Nam là kế hoạch quốc gia nhằm xây dựng hệ thống trung tâm nghiên cứu, thử nghiệm và phòng thí nghiệm trọng điểm để làm chủ tối thiểu 10 công nghệ nền tảng, từ đó nâng cao năng lực nghiên cứu, thử nghiệm, sản xuất thử và thương mại hóa, hướng tới độc lập công nghệ và tăng sức cạnh tranh của nền kinh tế. Động thái này đánh dấu sự chuyển hướng rõ rệt: từ tư duy gia công, phụ thuộc nhập khẩu sang tham vọng thiết kế, sở hữu trí tuệ và làm chủ chuỗi giá trị công nghệ lõi Việt Nam. Quyết định số 1483/QĐ-TTg do Phó Thủ tướng Hồ Quốc Dũng ký đã phê duyệt đề án phát triển hệ thống trung tâm nghiên cứu, thử nghiệm và phòng thí nghiệm trọng điểm quốc gia tập trung cho công nghệ chiến lược.

Việt Nam đặt mục tiêu làm chủ 10 công nghệ lõi

Hạ tầng nghiên cứu: 8 phòng thí nghiệm quốc gia và 4 trung tâm thử nghiệm

Điểm đáng chú ý nhất của kế hoạch nghiên cứu phát triển 2030 là cách Việt Nam chọn đầu tư vào hạ tầng nghiên cứu thay vì rải tiền cho các dự án đơn lẻ. Đến năm 2030, mục tiêu là nâng cấp, đầu tư mới và đưa vào vận hành tối thiểu 8 phòng thí nghiệm trọng điểm quốc gia trong các lĩnh vực công nghệ số, mạng di động thế hệ sau, robot và tự động hóa, sinh học và y sinh tiên tiến, năng lượng và vật liệu tiên tiến, an ninh mạng và lượng tử, biển – đại dương – lòng đất, hàng không và vũ trụ. Song song là tối thiểu 4 trung tâm nghiên cứu, thử nghiệm quốc gia cho thiết bị bay không người lái, sinh học và y sinh, vật liệu, đường sắt tốc độ cao và đường sắt đô thị. Đây là lựa chọn có tính chiến lược: tập trung vào những mảng có khả năng tạo lợi thế cạnh tranh dài hạn, thay vì chạy theo trào lưu ngắn hạn.

Việt Nam đặt mục tiêu làm chủ 10 công nghệ lõi

Từ phòng thí nghiệm đến doanh nghiệp: đo tham vọng bằng bằng sáng chế

Một hệ sinh thái công nghệ chiến lược không thể dừng ở phòng thí nghiệm quốc gia; nó phải đi được đến sản phẩm và doanh nghiệp. Đề án đặt mục tiêu làm chủ tối thiểu 10 công nghệ lõi phục vụ trực tiếp sản phẩm công nghệ chiến lược và các bài toán lớn của quốc gia. Đồng thời, số lượng đơn đăng ký sáng chế và văn bằng bảo hộ đối với công nghệ lõi, công nghệ chiến lược được kỳ vọng tăng trưởng bình quân tối thiểu 18% mỗi năm, tính từ năm thứ ba sau khi các trung tâm và phòng thí nghiệm đi vào vận hành. Đây là một mục tiêu tham vọng, cho thấy Nhà nước không chỉ muốn làm chủ công nghệ trên giấy, mà còn muốn đo được kết quả bằng tài sản trí tuệ. Tuy nhiên, tăng bằng sáng chế không tự động chuyển thành sản phẩm; việc hình thành ít nhất 10 doanh nghiệp khởi nghiệp sáng tạo hoặc doanh nghiệp khoa học và công nghệ có khả năng thương mại hóa công nghệ lõi sẽ là phép thử thực tế.

Việt Nam đặt mục tiêu làm chủ 10 công nghệ lõi

Độc lập công nghệ: không chỉ là thiết bị mà là năng lực hệ thống

Tham vọng độc lập công nghệ của Việt Nam không được diễn giải như tự sản xuất mọi thứ, mà là xây được năng lực hệ thống về nghiên cứu, thử nghiệm, đo lường, kiểm định, đánh giá sự phù hợp, sản xuất thử và thương mại hóa công nghệ. Từng bước hình thành năng lực hấp thụ, làm chủ, phát triển công nghệ chiến lược nhằm giảm lệ thuộc, tăng tự chủ công nghệ quốc gia. Đề án yêu cầu hình thành và kết nối mỗi trung tâm nghiên cứu, thử nghiệm, phòng thí nghiệm trọng điểm quốc gia với ít nhất một hệ sinh thái đổi mới sáng tạo hoặc cụm liên kết viện nghiên cứu, cơ sở giáo dục đại học, doanh nghiệp và cơ quan quản lý nhà nước để bảo đảm kết quả nghiên cứu gắn với nhu cầu thị trường, quốc phòng, an ninh. Nói cách khác, độc lập công nghệ sẽ chỉ có ý nghĩa khi phòng thí nghiệm không bị cô lập, mà nằm trong mạng lưới tri thức – sản xuất – chính sách.

Việt Nam đặt mục tiêu làm chủ 10 công nghệ lõi

Thách thức thực thi: từ văn bản, nguồn lực đến chuẩn khu vực

Chiến lược công nghệ lõi Việt Nam mang tầm nhìn dài hạn, nhưng điểm mấu chốt nằm ở thực thi. Đề án đưa ra 6 nhóm nhiệm vụ, giải pháp gồm: xây dựng các văn bản phục vụ công tác quản lý, vận hành; đổi mới cơ chế đầu tư về tài chính; quản trị và khai thác dùng chung; phát triển nguồn nhân lực; hợp tác quốc tế; giám sát, đánh giá hệ thống. Đây là những khâu Việt Nam vốn còn yếu, đặc biệt là cơ chế tài chính cho nghiên cứu và mô hình quản trị phòng thí nghiệm dùng chung. Mục tiêu đến năm 2035 là kết nối với mạng lưới hạ tầng nghiên cứu tiên tiến trong khu vực và quốc tế, có một số trung tâm thử nghiệm, phòng thí nghiệm đạt trình độ hàng đầu khu vực về công nghệ chiến lược. Nếu không cải thiện được năng lực vận hành, nguy cơ lớn nhất là hạ tầng xây xong nhưng không được khai thác hết, khiến cơ hội công nghệ lõi Việt Nam bị chậm lại trong cuộc cạnh tranh khu vực.

Sammfy nhận hoa hồng khi bạn mua sắm qua liên kết của chúng tôi, bạn không phải trả thêm chi phí.

You May Also Like

Comments
Viết gì đó...
Chưa có bình luận nào. Hãy là người đầu tiên chia sẻ suy nghĩ!