Kinh tế biên giới phải vượt khỏi vai trò cửa khẩu
Kinh tế biên giới là hệ thống hoạt động sản xuất, thương mại, dịch vụ và logistics gắn với khu vực cửa khẩu, được tổ chức để kết nối địa phương với các vùng kinh tế và thị trường xuyên biên giới. Với Tây Ninh, đây không nên chỉ là câu chuyện về hàng hóa qua lại, mà là cơ hội hình thành một hành lang giao thương có sức hút đầu tư và tạo sinh kế tại chỗ. Tỉnh đang hoàn thiện đề án phát triển kinh tế biên giới đến năm 2035, định hướng đến năm 2050. Định hướng ấy có cơ sở địa lý rõ rệt: tuyến biên giới dài khoảng 369 km, tiếp giáp ba tỉnh Campuchia; địa bàn có 19 xã biên giới, nhiều cấp cửa khẩu và ba khu kinh tế cửa khẩu. Mộc Bài được xác định là hạt nhân giao thương với Campuchia và các nước ASEAN. Nhưng lợi thế vị trí chỉ có giá trị khi được chuyển thành hạ tầng, dịch vụ và năng lực đưa hàng tới người mua.
Đề án vì thế cần đặt trọng tâm vào kết nối thị trường ASEAN, thay vì xem kim ngạch xuất nhập khẩu là thước đo duy nhất. Năm 2025, giao thương qua biên giới đạt hơn 3,65 tỷ USD, gần gấp bốn lần năm 2020; tuy nhiên, tăng trưởng này chưa xóa được những điểm nghẽn về logistics, hạ tầng thiếu đồng bộ và tỷ lệ lấp đầy khu công nghiệp còn thấp.
Ngoại giao kinh tế có thể mở đường cho nguồn lực
Hạ tầng không thể tự tạo ra thị trường. Muốn tuyến biên giới trở thành mắt xích trong chuỗi cung ứng khu vực, Tây Ninh cần đồng thời xây dựng quan hệ đối tác, kết nối doanh nghiệp và duy trì hợp tác thực chất với các địa phương giáp biên. Đây là lý do đối ngoại Tây Ninh nên được xem là một phần của chiến lược kinh tế, chứ không chỉ là hoạt động giao lưu song song với phát triển. Trong chín tháng đầu năm 2026, tỉnh tăng cường kết nối với cơ quan ngoại giao, tổ chức quốc tế, đối tác và nhà đầu tư; đồng thời tổ chức, tham gia các chương trình xúc tiến đầu tư, thương mại và du lịch ở nhiều thị trường. Tây Ninh cũng ký thỏa thuận hợp tác với Svay Rieng, Prey Veng và Tboung Khmum, duy trì trao đổi hữu nghị và phối hợp quản lý biên giới. Những quan hệ này có thể giúp mở thêm kênh hợp tác và huy động nguồn lực, miễn là được gắn với dự án cụ thể, nhu cầu doanh nghiệp và lợi ích cư dân.
Quy mô kết nối quốc tế của tỉnh đang mở rộng, nhưng kết quả cần được đo bằng năng lực tạo việc làm, tăng giá trị sản xuất và giúp hàng hóa tiếp cận thị trường, không chỉ bằng số cuộc gặp hay thỏa thuận. Cách tiếp cận đó mới biến “Tây Ninh ASEAN” từ một định vị địa lý thành vai trò trung chuyển có ích cho doanh nghiệp và cộng đồng vùng biên.

An ninh và đời sống dân cư là điều kiện phát triển
Một chiến lược kinh tế biên giới chỉ bền vững nếu đi cùng quản lý địa bàn, phòng chống buôn lậu và gian lận thương mại, bảo vệ môi trường, giữ vững quốc phòng và an ninh. Đây không phải phần việc phụ để bổ sung sau khi hạ tầng hoàn thành: an toàn tuyến biên và sự tin cậy giữa cộng đồng hai bên là điều kiện để giao thương và đầu tư vận hành lâu dài. Tây Ninh đã gắn hợp tác với các địa phương Campuchia với phối hợp quản lý biên giới và đối ngoại nhân dân; các chương trình hỗ trợ phụ nữ, học sinh và người dân vùng biên cũng góp phần cải thiện đời sống, củng cố quan hệ quân dân. Đó là nền tảng xã hội đáng kể, nhưng đề án cần bảo đảm người dân địa phương được hưởng lợi cụ thể từ hoạt động logistics, thương mại và dịch vụ, thay vì chỉ chịu thêm áp lực giao thông, môi trường hay cạnh tranh đất đai.
Nút thắt trước mắt vẫn là khoảng cách giữa tiềm năng và năng lực thực hiện: thương mại phụ thuộc nhiều vào xuất nhập khẩu, logistics chưa tương xứng, kết nối giao thông còn thiếu đồng bộ. Vì vậy, quy hoạch cần chỉ rõ thứ tự ưu tiên, trách nhiệm và nguồn lực cho các dự án, đồng thời gắn tăng trưởng với sinh kế và kiểm soát rủi ro. Nếu thiếu những cam kết có thể kiểm chứng, tham vọng kết nối sẽ dễ dừng ở bản đồ và mục tiêu.
Từ quy hoạch đến cửa ngõ ASEAN
Tây Ninh có cơ hội trở thành điểm trung chuyển hàng hóa giữa vùng kinh tế trọng điểm phía Nam, Campuchia và các nước ASEAN, nhưng kết quả sẽ phụ thuộc vào cách tỉnh nối ba việc: hoàn thiện hạ tầng cửa khẩu, tổ chức dịch vụ logistics có sức cạnh tranh và duy trì hợp tác xuyên biên giới có mục tiêu rõ ràng. Mộc Bài có thể làm hạt nhân, song hiệu quả của nó cần lan tỏa tới các khu kinh tế, cơ sở sản xuất và doanh nghiệp trong tỉnh. Bởi vậy, thước đo của đề án không nên dừng ở lượng hàng qua biên giới. Khả năng thu hút đầu tư phù hợp, mở rộng thị trường cho doanh nghiệp địa phương, tạo việc làm và nâng cao đời sống cư dân cũng cần nằm trong đánh giá. Kết nối thị trường ASEAN chỉ có ý nghĩa khi lợi ích thương mại đi cùng an ninh và phát triển bao trùm.
Tầm nhìn của Tây Ninh là hợp lý, nhưng vị trí địa lý tự nó không tạo thành cửa ngõ. Đề án chỉ có thể biến kinh tế biên giới thành động lực nếu ngoại giao kinh tế dẫn tới hợp tác thực chất, quy hoạch tháo gỡ được điểm nghẽn và người dân vùng biên được hưởng thành quả. Khi đó, kết nối khu vực mới là năng lực phát triển, không chỉ là lời hứa.






