Khám phá sở thích, cùng nhau

Deal thật, đánh giá chân thực và câu chuyện mua sắm từ những người cùng sở thích với bạn — mỗi ngày trên Sammfy.

Khám phá sở thích, cùng nhauDeal thật, đánh giá chân thực và câu chuyện mua sắm từ những người cùng sở thích với bạn — mỗi ngày trên Sammfy.

Việt Nam tăng tốc hạ tầng LNG: Đồng bộ thị trường để khỏi lãng phí

Việt Nam tăng tốc hạ tầng LNG: Đồng bộ thị trường để khỏi lãng phí
Sở thích|Đông Nam Á

Hạ tầng LNG Việt Nam: Không chỉ là kho cảng và nhà máy điện

Hạ tầng LNG Việt Nam là tập hợp đồng bộ các kho cảng tiếp nhận, bồn chứa, hệ thống tái hóa, đường ống dẫn khí và nhà máy điện khí LNG, được kết nối với thị trường điện và khách hàng công nghiệp để bảo đảm cung ứng khí tự nhiên ổn định, an toàn và hiệu quả cho phát triển năng lượng quốc gia. Đây không phải câu chuyện xây thêm vài nhà máy điện khí rồi chờ phụ tải đến, mà là bài kiểm tra năng lực điều phối giữa quy hoạch điện, thị trường điện cạnh tranh và chiến lược an ninh năng lượng. Theo Quy hoạch điện VIII điều chỉnh, tổng công suất nguồn điện khí LNG đến năm 2030 được xác định ở mức 22.524 MW, đặt ra yêu cầu phát triển đồng bộ kho cảng, bồn chứa, đường ống dẫn khí và các nhà máy điện. Nếu chỉ chạy đua công suất mà bỏ quên thị trường tiêu thụ và cơ chế vốn, hạ tầng LNG rất dễ trở thành tài sản đắt đỏ nhưng hoạt động cầm chừng.

Việt Nam tăng tốc hạ tầng LNG: Đồng bộ thị trường để khỏi lãng phí

Điện khí LNG Hải Phòng: Mắt xích mới ở phía Bắc, tham vọng chuỗi cung ứng

Thỏa thuận giữa PV Power và PV GAS về chuỗi dự án kho cảng LNG và nhà máy nhiệt điện khí LNG tại Hải Phòng, công suất dự kiến khoảng 1.600 MW, là bước đi chiến lược chứ không chỉ là một dự án đơn lẻ. Theo phân công, PV GAS chủ trì nghiên cứu kho cảng LNG, PV Power phụ trách nhà máy điện, cùng lập báo cáo trình Tập đoàn xem xét chủ trương và hỗ trợ thu xếp vốn. Sau khi có ý kiến chỉ đạo, hai bên sẽ làm việc với chính quyền Hải Phòng để hoàn thiện pháp lý, cập nhật quy hoạch và chuẩn bị đầu tư. Đáng chú ý, cùng lúc họ mở rộng hợp tác cung cấp khí thiên nhiên và LNG tái hóa cho các nhà máy điện khu vực Tây Nam Bộ, bao gồm Cà Mau 1, Cà Mau 2 và các dự án mở rộng với nhu cầu khí dự kiến tăng lên khoảng 2,5–4 tỷ m³/năm. Cách tiếp cận chuỗi này cho thấy hạ tầng LNG phía Bắc đang được thiết kế gắn với mạng cung ứng toàn quốc, thay vì một “ốc đảo” công suất.

Việt Nam tăng tốc hạ tầng LNG: Đồng bộ thị trường để khỏi lãng phí

Phú Mỹ và Thị Vải: LNG nhập khẩu đang gánh vai trò ổn định hệ thống

Ở phía Nam, câu chuyện hạ tầng LNG Việt Nam đã chuyển từ ý tưởng sang vận hành thực tế. Kho LNG Thị Vải của PV GAS đi vào vận hành từ tháng 7/2023 với công suất thiết kế 1 triệu tấn/năm, tạo năng lực tiếp nhận, tồn trữ và tái hóa khí cho thị trường năng lượng phía Nam. Trên nền tảng đó, EVNGENCO3 đang dùng LNG nhập khẩu để bù đắp sự suy giảm khoảng 1 tỷ m³/năm của nguồn khí nội địa Đông Nam Bộ. Trong 9 tháng năm 2026, các nhà máy EVN/EVNGENCO3 đã mua thêm 148,6 triệu m³ LNG được tái hóa tại Thị Vải, và riêng quý IV/2026 nhu cầu LNG dự kiến khoảng 78 triệu m³. Nhiên liệu khí cho các tháng còn lại được bảo đảm theo phương thức vận hành của NSMO, cho phép cụm Phú Mỹ hướng tới sản lượng 12,747 tỷ kWh năm 2027 trong tổng kế hoạch 32,648 tỷ kWh của EVNGENCO3. Đây là minh chứng rõ ràng rằng nếu không có LNG nhập khẩu, hệ thống sẽ phải quay lại phát điện bằng dầu với chi phí cao và rủi ro thiếu điện.

Việt Nam tăng tốc hạ tầng LNG: Đồng bộ thị trường để khỏi lãng phí

Chuỗi LNG khép kín: Từ Nhơn Trạch đến Tây Nam Bộ, thị trường phải đi cùng

Việc hình thành chuỗi cung ứng LNG không dừng ở Thị Vải hay Hải Phòng. Ở Đồng Nai, cụm nhà máy Nhơn Trạch 3 và 4 với tổng công suất hơn 1,6 GW đang là mắt xích quan trọng kết nối nguồn khí nhập khẩu với hệ thống điện quốc gia. Cùng với hợp đồng mua LNG định hạn mà PV GAS ký với Shell Eastern Trading cho giai đoạn 2027–2031, bức tranh cung ứng khí tự nhiên cho các nhà máy điện khí ngày càng rõ: LNG sẽ là trụ cột bù đắp suy giảm khí nội địa và đáp ứng nhu cầu điện tăng nhanh cho phát triển kinh tế – xã hội. Ở Tây Nam Bộ, PV GAS nghiên cứu hạ tầng cung cấp LNG gồm FSRU, đường ống Đông – Tây và kho cảng LNG để cấp khí cho Cà Mau 1, 2 và các dự án mở rộng. Nhu cầu khí của hai nhà máy hiện hữu đã 1,2–2 tỷ m³/năm, và khi mở rộng có thể lên 2,5–4 tỷ m³/năm. Nếu thị trường điện và hợp đồng mua bán điện không đủ dài hạn, chuỗi này sẽ khó đạt hiệu quả như kỳ vọng.

Việt Nam tăng tốc hạ tầng LNG: Đồng bộ thị trường để khỏi lãng phí

Hạ tầng dùng chung, chia sẻ rủi ro: Điều kiện sống còn cho phát triển năng lượng

Điểm yếu lớn nhất của hạ tầng LNG Việt Nam hiện nay không phải thiếu dự án, mà là thiếu cơ chế chia sẻ rủi ro giữa Nhà nước, doanh nghiệp điện và khách hàng lớn. Chuỗi hạ tầng LNG có tổng mức đầu tư khổng lồ và mang tính an ninh năng lượng công cộng, nên bài toán thu hồi vốn là rào cản lớn nhất đối với khối tư nhân. Nếu khoán trắng cho doanh nghiệp xây kho cảng, đường ống và nhà máy, áp lực tài chính sẽ khiến dự án kéo dài, thậm chí “đắp chiếu”. Giải pháp hợp lý là mô hình hạ tầng dùng chung với hợp tác công – tư rõ ràng: Nhà nước đầu tư hoặc hỗ trợ các hạng mục nền tảng như kho cảng đầu mối, đường ống trục; doanh nghiệp tập trung vào nhà máy và thiết bị sản xuất. Từ góc độ tổ chức thị trường, mô hình tiếp cận hạ tầng của bên thứ ba (TPA) cho phép nhiều nhà máy điện khí và khách hàng công nghiệp cùng sử dụng kho cảng, đường ống, giảm chi phí và rủi ro cho từng dự án. Nếu không đồng bộ cơ chế vốn, thị trường tiêu thụ và chia sẻ rủi ro, hạ tầng LNG sẽ khó trở thành động lực bền vững cho phát triển năng lượng.

Việt Nam tăng tốc hạ tầng LNG: Đồng bộ thị trường để khỏi lãng phí

Sammfy nhận hoa hồng khi bạn mua sắm qua liên kết của chúng tôi, bạn không phải trả thêm chi phí.

You May Also Like

Comments
Viết gì đó...
Chưa có bình luận nào. Hãy là người đầu tiên chia sẻ suy nghĩ!