Chuẩn mực phải được đo bằng chất lượng đào tạo
Chuẩn cơ sở giáo dục đại học là hệ thống yêu cầu để các trường rà soát tổ chức, nguồn lực, hoạt động và định hướng phát triển, đồng thời bảo đảm chất lượng đào tạo gắn với kết quả thực tế của người học. Đây không nên là cuộc chạy đua hoàn thiện hồ sơ, mà là phép thử xem nhà trường có giúp sinh viên suy nghĩ, hành nghề và ứng dụng pháp luật tốt hơn hay không. Ngày 29/10, Mạng lưới các cơ sở đào tạo luật ở Việt Nam phối hợp với Trường Đại học Luật, Đại học Huế, Đại học Thăng Long và Phân hiệu Trường Đại học Lao động – Xã hội tại TP.HCM tổ chức hội thảo về những vấn đề đặt ra cho đào tạo luật từ chuẩn cơ sở giáo dục đại học. Hội thảo diễn ra trong bối cảnh giáo dục đại học cần đổi mới, nâng chất lượng và sức cạnh tranh. Luật Giáo dục đại học cùng Thông tư 83/2026/TT-BGDĐT là căn cứ để các trường rà soát hoạt động, xác định mục tiêu và cải thiện bảo đảm chất lượng.
Với đào tạo ngành luật, đánh giá không thể dừng ở cơ sở vật chất, bằng cấp giảng viên hay điểm số. Đích đến phải là tư duy pháp lý, kỹ năng nghề nghiệp, đạo đức và khả năng vận dụng quy định vào tình huống thực tế. Nếu chỉ đạt điều kiện trên giấy mà người học vẫn lúng túng trước vấn đề nghề nghiệp, chuẩn đại học chưa tạo ra giá trị đáng kể. Vì vậy, các yêu cầu về chất lượng và hiệu quả hoạt động nên gắn với kết quả học tập, trải nghiệm thực hành và mức độ sẵn sàng của sinh viên khi bước vào nghề.

Đội ngũ giảng viên cần đi cùng năng lực nghiên cứu
Một chương trình tốt khó đứng vững nếu thiếu giảng viên đủ chuyên môn và thời gian để dạy, nghiên cứu, hướng dẫn sinh viên. Yêu cầu đối với giảng viên luật ngày càng rộng: không chỉ là trình độ đào tạo mà còn gồm năng lực nghiên cứu, công bố quốc tế và chuyển giao tri thức. Việc tăng số giảng viên để đáp ứng quy mô người học cũng cần song hành với nâng năng lực nghiên cứu và bảo đảm thời gian thực hiện nhiệm vụ.
Thực tế, nguồn tiến sĩ luật chất lượng cao còn hạn chế, trong khi các trường cạnh tranh thu hút nhân lực và mức đãi ngộ khó so với khu vực hành nghề. Khoa Luật, Đại học Huế, hiện có gần 40% giảng viên đạt trình độ tiến sĩ trở lên; trường hỗ trợ cán bộ học tiến sĩ bằng kinh phí, giảm định mức giảng dạy và khen thưởng khi hoàn thành đúng hạn. Đây là hướng đi cần thiết, nhưng các chính sách phát triển đội ngũ phải gắn với chuyên ngành, vị trí việc làm và kết quả đóng góp. Với nghiên cứu pháp luật vốn thường gắn với hệ thống pháp lý trong nước, hợp tác liên ngành, nhóm nghiên cứu mạnh và cơ chế khuyến khích phù hợp có thể mở rộng năng lực mà không biến số lượng công bố thành mục tiêu hình thức.

Chương trình luật phải gắn với thực tiễn và công nghệ
Đổi mới chương trình luật là trọng tâm vì chuẩn chất lượng chỉ có ý nghĩa khi chuyển thành năng lực cụ thể của người học. Theo Tiến sĩ Võ Khánh Linh, chương trình cần bảo đảm kiến thức cốt lõi, rèn tư duy pháp lý và khả năng nhận diện, giải quyết vấn đề pháp lý. Điều đó đòi hỏi thiết kế lại cách dạy và đánh giá, chứ không chỉ bổ sung vài học phần mới.
Sinh viên cần được đánh giá qua việc xử lý tình huống, hoạt động thực hành và khả năng kết nối kiến thức với công việc; các năng lực này phải được rèn xuyên suốt học phần, phương pháp giảng dạy và hoạt động học tập. Trong bối cảnh trí tuệ nhân tạo phát triển, chương trình cũng nên dạy cách sử dụng công cụ, tư duy công nghệ và đạo đức nghề nghiệp. Giảng viên cần được chuẩn bị để hướng dẫn người học dùng công nghệ cho việc học và giải quyết vấn đề chuyên môn. Đây là thay đổi có ích trực tiếp: người học không chỉ nhớ quy định mà còn biết tra cứu, phân tích và vận dụng có trách nhiệm.

Chuẩn không thể tách khỏi hiệu quả hoạt động
Áp lực đổi mới còn đến từ biến động tuyển sinh: số thí sinh nhập học ngành luật năm 2026 giảm 23% và được dự báo tiếp tục giảm trong năm 2027. Khi người học có nhiều lựa chọn hơn, các trường không thể dựa mãi vào danh tiếng hay chỉ tiêu; chất lượng chương trình, trải nghiệm học tập và triển vọng nghề nghiệp cần được chứng minh bằng kết quả.
Vì thế, hiệu quả hoạt động nên được nhìn qua những thay đổi có thể kiểm chứng: sinh viên tiến bộ ra sao, giảng viên đóng góp thế nào cho nhà trường, hoạt động thực hành có giúp người học chuẩn bị cho nghề nghiệp hay không. Hội thảo đề xuất gắn mức độ đáp ứng chuẩn với kết quả hoạt động và thay đổi thực chất, đồng thời bổ sung cách đánh giá chất lượng thực hành pháp luật và mức độ chuẩn bị nghề nghiệp cho sinh viên. Các ý kiến tại hội thảo được kỳ vọng góp thêm cơ sở khoa học và kinh nghiệm thực tiễn cho quản lý, bảo đảm chất lượng và phát triển bền vững các cơ sở đào tạo luật.
Kết luận, chuẩn đại học chỉ thúc đẩy nâng chất lượng khi buộc nhà trường cải thiện đồng thời đội ngũ, nghiên cứu và chương trình học. Với ngành luật, thước đo cuối cùng không phải số tiêu chí đã hoàn thành, mà là người học có năng lực tư duy, hành nghề và vận dụng pháp luật tốt hơn hay không.







