1. Bài toán vốn khổng lồ: Tăng gấp đôi nhưng không thể tăng rủi ro
Huy động vốn đầu tư cho giai đoạn tăng trưởng mới của Việt Nam là bài toán xây dựng một cấu trúc tài chính đủ lớn, đủ dài hạn và đủ đa dạng, nhằm biến nhu cầu phát triển hạ tầng, chuyển đổi năng lượng và nâng cấp năng lực sản xuất thành nguồn lực thực sự chảy vào nền kinh tế một cách hiệu quả và bền vững. Việt Nam đang bước vào một kỷ nguyên tăng trưởng mới với yêu cầu cao hơn về quy mô, tốc độ và chất lượng phát triển, từ hạ tầng, năng lượng đến tiêu chuẩn môi trường và truy xuất nguồn gốc. Trong bối cảnh đó, giai đoạn 2026–2030 được ước tính cần tới lượng vốn đầu tư gần gấp đôi giai đoạn trước, với khoảng 1.450 tỷ USD, trong đó khoảng 80% dự kiến đến từ khu vực tư nhân. Đặt lên bàn là câu hỏi: nếu vẫn dựa chủ yếu vào tín dụng ngân hàng, hệ thống tài chính sẽ chịu mức rủi ro nào và nền kinh tế có còn dư địa cho tăng trưởng bền vững?
2. Diễn đàn Kinh tế mới: Cảnh báo về khả năng hấp thụ vốn
Diễn đàn Kinh tế mới Việt Nam lần thứ 4 với chủ đề “Chính sách đột phá và sức bật của địa phương, doanh nghiệp” được tổ chức trong quý cuối năm đầu tiên thực hiện Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng, khi mục tiêu tăng trưởng “2 con số” đã được xác lập. Tại đây, các chỉ số tăng trưởng 9 tháng cho thấy đà đi lên, nhưng đồng thời phơi lộ những điểm nghẽn về đầu tư tư nhân, công nghiệp – xây dựng và thị trường lao động. Ông Nguyễn Thanh Nghị nhấn mạnh yêu cầu “chuyển từ chủ trương đúng sang đột phá về thực thi”, chấm dứt tư duy “không quản được thì cấm” và quản lý theo kết quả đầu ra. Phó Thủ tướng Nguyễn Văn Thắng yêu cầu “chuyển mạnh từ tư duy ban hành chính sách sang tư duy tổ chức thực hiện và đo lường kết quả”. Những phát biểu này cho thấy 1.450 tỷ USD tự thân không tạo ra tăng trưởng; chỉ khi khả năng hấp thụ vốn của địa phương và doanh nghiệp được nâng cấp, dòng tiền mới biến thành năng lực sản xuất.

3. Không thể mãi trông vào ngân hàng: Kênh vốn dài hạn là trọng tâm
Nhu cầu vốn cho mục tiêu phát thải ròng bằng 0 vào năm 2050 được Ngân hàng Thế giới ước tính tương đương 6,8% GDP mỗi năm đến năm 2040, với tổng nhu cầu lên tới khoảng 358 tỷ USD. Trong khi đó, tín dụng ngân hàng vẫn là nguồn vốn chủ đạo, nhưng sẽ khó gánh toàn bộ các dự án có quy mô lớn, thời hạn dài và yêu cầu công nghệ cao. Tín dụng xanh trong nước dù tăng nhanh cũng mới chiếm hơn 4% tổng dư nợ toàn nền kinh tế. Theo các chuyên gia, “nguồn lực công không thể đáp ứng nhu cầu này một mình. Hệ thống ngân hàng cũng không nên phải gánh vác phần lớn trách nhiệm, bởi cơ sở hạ tầng có vòng đời dài cần nguồn tài chính dài hạn”. Bài toán vì thế nằm ở đa dạng hóa kênh vốn dài hạn: thị trường trái phiếu phát triển theo chiều sâu, vốn vay trung và dài hạn quốc tế, tài trợ dự án, tín dụng xuất khẩu, khoản vay hợp vốn và ODA.

4. Ba trụ cột vốn quốc tế và yêu cầu tái thiết cấu trúc tài chính
Để giảm lệ thuộc vào ngân hàng và nâng cấp cấu trúc tài chính, ba kênh vốn quốc tế được xem là trụ cột. Thứ nhất là vốn cổ phần từ nhà đầu tư nước ngoài, đi cùng công nghệ xanh, kinh nghiệm quản trị và kết nối chuỗi cung ứng toàn cầu, đồng thời chia sẻ rủi ro với doanh nghiệp thay vì tạo áp lực trả nợ ngắn hạn. Thứ hai là vốn vay trung và dài hạn thông qua tài trợ dự án, tín dụng xuất khẩu, khoản vay hợp vốn, ODA và trái phiếu quốc tế, phù hợp với các dự án hạ tầng năng lượng, đường sắt, cảng biển. Thứ ba là tài trợ thương mại và tài trợ chuỗi cung ứng, giúp doanh nghiệp, đặc biệt là doanh nghiệp xuất khẩu, có đủ vốn lưu động để duy trì hoạt động trong chuyển đổi xanh. Bài toán không chỉ là huy động đủ nguồn lực, mà còn phải đa dạng hóa cấu trúc vốn và nâng cao khả năng hấp thụ để biến vốn thành năng lực sản xuất. Việc lựa chọn công cụ phải gắn với mục đích sử dụng vốn và dòng tiền cụ thể.
5. Tăng trưởng bền vững: từ ESG trên giấy tới chiến lược thực thi
Ngân hàng Thế giới nhận định Việt Nam đang chuyển từ mô hình tăng trưởng dựa vào vốn và lao động sang tăng trưởng dựa trên năng suất, đổi mới sáng tạo và sử dụng hiệu quả nguồn lực. Điều này chỉ khả thi nếu nhu cầu vốn khổng lồ được gắn với chiến lược tăng trưởng bền vững, trong đó ESG không đứng ngoài mà được tích hợp vào vận hành doanh nghiệp. Khoản vay xanh phù hợp với các hạng mục rõ ràng như thiết bị tiết kiệm năng lượng, điện mặt trời mái nhà hay hệ thống xử lý nước thải; khoản vay liên kết bền vững phù hợp với doanh nghiệp cần linh hoạt dòng tiền nhưng cam kết cải thiện chỉ số bền vững. Trong 5–10 năm tới, lợi thế sẽ dành cho những doanh nghiệp biết biến mục tiêu xanh thành dự án có thể đo lường, tài trợ và kiểm chứng. Ở tầm quốc gia, cùng với kế hoạch nâng xếp hạng tín nhiệm lên mức đầu tư vào năm 2030, Việt Nam chỉ có thể tiếp cận được các kênh vốn dài hạn nếu chứng minh được hiệu quả thực thi cải cách, đo lường được kết quả và giảm thiểu rủi ro chính sách cho nhà đầu tư.






