Việt Nam trong bức tranh kinh tế toàn cầu: câu chuyện bứt phá
GDP Việt Nam 2030 là khái niệm dùng để chỉ quy mô tổng sản phẩm quốc nội mà Quỹ Tiền tệ Quốc tế dự báo cho Việt Nam trong bối cảnh kinh tế toàn cầu tái cấu trúc chuỗi cung ứng, các thị trường mới nổi tăng vai trò, và khu vực châu Á trở thành động lực tăng trưởng, qua đó cho thấy vị thế mới của Việt Nam trong bảng xếp hạng kinh tế thế giới. Theo báo cáo Triển vọng Kinh tế Thế giới, nền kinh tế toàn cầu được kỳ vọng mở rộng, trong đó các thị trường mới nổi ở châu Á đóng góp phần đáng kể vào tăng trưởng. Trong kịch bản này, Việt Nam không còn là "người theo sau" mà nổi lên như một nền kinh tế trung bình nhưng năng động, gắn chặt với thương mại và chuỗi cung ứng toàn cầu.
Dự báo IMF: Việt Nam vượt Thái Lan và Hong Kong, nhưng vẫn ngoài top 10
Theo dự báo IMF, Việt Nam sẽ đạt quy mô kinh tế ở vị trí thứ 34 toàn cầu vào năm 2030, tức vẫn ngoài kinh tế toàn cầu top 10 nhưng có bước tiến đáng kể. Nền kinh tế Việt Nam được ước tính vượt Thái Lan và Hong Kong trong cùng khu vực, phản ánh sức bật của một nước đang công nghiệp hóa nhanh. Điều này quan trọng về mặt biểu tượng: Việt Nam leo lên trên những nền kinh tế từng được xem là phát triển hơn, cho thấy cấu trúc sức mạnh kinh tế Đông Á – Đông Nam Á đang dịch chuyển. Dù chưa chạm đến nhóm mười nền kinh tế lớn nhất, việc cải thiện thứ hạng và quy mô cho thấy dư địa tăng trưởng vẫn lớn, đồng thời đặt ra yêu cầu cải cách mạnh hơn về thể chế, năng suất lao động và chất lượng nhân lực để không bị kẹt ở "bẫy thu nhập trung bình" trong thập kỷ tới.

So sánh kinh tế khu vực: Việt Nam từ 1/8 GDP Philippines đến áp sát nhóm đầu
Câu chuyện tăng trưởng kinh tế châu Á nhìn từ Việt Nam rõ nét nhất khi so sánh kinh tế khu vực trong bốn thập kỷ qua. Năm 1990, quy mô GDP của Việt Nam chỉ bằng gần 1/8 Philippines, cho thấy xuất phát điểm thấp và khoảng cách phát triển rất xa. Thu nhập bình quân đầu người khi đó của Việt Nam cũng chỉ bằng khoảng 1/6-1/7 Philippines. Tuy nhiên, từ đầu những năm 1990, công cuộc Đổi mới, mở cửa nền kinh tế và hội nhập quốc tế đã đưa Việt Nam vào giai đoạn tăng trưởng mạnh mẽ. Đây không phải là tăng trưởng may mắn, mà là kết quả của định hướng chính sách nhất quán hướng tới kinh tế thị trường, thu hút đầu tư nước ngoài, và đẩy mạnh xuất khẩu chế biến – chế tạo. Nếu Philippines từng là hình mẫu, thì hiện nay chính Việt Nam mới là nền kinh tế được nhắc đến như một mắt xích quan trọng của chuỗi cung ứng toàn cầu.

Thu nhập bình quân và vị thế xuất khẩu: nền tảng cho bước nhảy tiếp theo
Đến giữa thập niên 2020, Việt Nam đã gia nhập nhóm nước thu nhập trung bình cao, với thu nhập bình quân đầu người tiến gần mức của Indonesia, cho thấy khoảng cách thu nhập trong ASEAN đang thu hẹp lại. Quan trọng hơn, cấu trúc tăng trưởng dựa trên xuất khẩu tạo ra sức nặng mới cho nền kinh tế. Việt Nam chỉ chiếm khoảng 0,5% GDP toàn cầu nhưng đóng góp gần 1,8% kim ngạch xuất khẩu hàng hóa thế giới, đứng thứ 18 toàn cầu và thứ hai trong ASEAN. Đây là minh chứng cho độ mở thương mại rất cao và vị trí trong các chuỗi giá trị khu vực, đồng thời cũng là điểm dễ tổn thương trước suy giảm thương mại. "Việt Nam chỉ tạo ra khoảng 0,5% GDP toàn cầu nhưng lại đóng góp gần 1,8% kim ngạch xuất khẩu hàng hóa thế giới" là một câu nói tóm tắt đúng thực trạng hiện nay.
Chuỗi cung ứng dịch chuyển và thách thức để tiệm cận nhóm kinh tế hàng đầu
Dự báo IMF về Việt Nam không thể tách khỏi bối cảnh dòng chảy thương mại toàn cầu đảo chiều. Khi nhập khẩu của Mỹ từ Trung Quốc giảm, một phần nguồn hàng được chuyển sang các nền kinh tế khác tại châu Á, trong đó có Việt Nam, tạo cơ hội để mở rộng sản xuất và xuất khẩu. Sự dịch chuyển này giúp Việt Nam hưởng lợi, nhưng không có nghĩa nền kinh tế miễn nhiễm với rủi ro từ suy giảm thương mại toàn cầu và các thay đổi chính sách của đối tác lớn. Trong kịch bản cơ sở, IMF giả định các xung đột được giới hạn về thời gian và quy mô, qua đó hoạt động sản xuất và xuất khẩu năng lượng dần được khôi phục. Nếu bối cảnh thuận lợi này xảy ra, dự báo IMF Việt Nam có cơ hội thành hiện thực. Tuy vậy, để tiến gần hơn top 10, Việt Nam cần bước chuyển chất lượng: tăng năng suất, phát triển dịch vụ giá trị cao, và giảm phụ thuộc vào mô hình gia công chi phí thấp.






