Luật phát triển đô thị là gì và vì sao đây là bước ngoặt tài chính cho TP.HCM?
Luật phát triển đô thị là khuôn khổ pháp lý mới do Quốc hội thông qua nhằm phân quyền mạnh hơn cho các đô thị lớn, cho phép họ chủ động quy hoạch không gian phát triển, huy động vốn trong nước và huy động vốn quốc tế, phát hành trái phiếu thành phố, đồng thời gắn chặt quyền tự quyết với trách nhiệm tài chính và giải trình trước người dân và trung ương.
Điểm mấu chốt không nằm ở việc có thêm một đạo luật, mà ở việc cấu trúc lại quan hệ quyền – tiền – trách nhiệm. Cuối giờ sáng 24-8, với 465/474 đại biểu có mặt tán thành, Quốc hội khóa XVI thông qua Luật phát triển đô thị, gồm 5 chương, 66 điều và có hiệu lực từ ngày 1-10-2026. Đây là thông điệp chính trị rõ ràng: trung ương sẵn sàng giao thêm quyền, miễn là địa phương dám chịu trách nhiệm. Với TP.HCM, điều đó đồng nghĩa: nếu muốn đi nhanh hơn, thành phố phải học cách vận hành như một “chủ đầu tư tài chính” tầm khu vực, chứ không còn là một “đơn vị xin cơ chế” từng dự án.
Theo Chính phủ, các cơ chế trong luật được thiết kế trên cơ sở tổng kết các chính sách đặc thù đã áp dụng, kết hợp kinh nghiệm từ Luật Thủ đô và năng lực thực thi của TP.HCM. Một trong những điểm đáng chú ý là cơ chế “phân quyền triệt để gắn với kiểm soát đa tầng”, chuyển hẳn từ mô hình xin – cho sang phương châm “địa phương quyết, địa phương làm, địa phương chịu trách nhiệm”. Nói cách khác, TP.HCM được trao chìa khóa tài chính – thể chế, nhưng nếu điều khiển sai, chính thành phố và người dân sẽ là người trả giá.

Từ xin – cho sang chủ động phát hành trái phiếu thành phố và huy động vốn quốc tế
Trọng tâm tài chính của Luật phát triển đô thị là trao thêm thẩm quyền phát hành trái phiếu thành phố và quyền tiếp cận trực tiếp các kênh huy động vốn quốc tế cho TP.HCM và các đô thị lớn. Ở lĩnh vực tài chính – đầu tư, HĐND TP.HCM được quyết định phát hành nhiều loại trái phiếu, vay từ các tổ chức tài chính trong nước, nước ngoài và quốc tế để huy động vốn cho các dự án đầu tư, với điều kiện bảo đảm an toàn nợ công. Đây là sự thay đổi cấu trúc: quyền ra quyết định tài chính gắn luôn với trách nhiệm trả nợ và quản lý rủi ro.
Một điểm đáng trích dẫn là: “Luật phát triển đô thị trao thêm thẩm quyền liên quan đến phát hành trái phiếu, huy động vốn từ các tổ chức tài chính trong nước, nước ngoài và quốc tế cho TP.HCM”. Nếu trước đây, nhiều dự án hạ tầng lớn phải chờ trung ương phê duyệt phương án vay, nay cơ chế mới cho phép thành phố thiết kế cấu trúc huy động vốn đa dạng hơn – từ trái phiếu đô thị, trái phiếu công trình đến các khoản vay quốc tế – miễn là tuân thủ trần nợ và các tiêu chí an toàn.
Tác động với người dân sẽ không chỉ nằm trên giấy. Khi HĐND TP.HCM được quyền ban hành nghị quyết để điều chỉnh trình tự, thủ tục, thẩm quyền giải quyết thủ tục hành chính theo hướng đơn giản hóa, ứng dụng khoa học, công nghệ và chuyển đổi số, nhưng không được đặt thêm yêu cầu, điều kiện hay kéo dài thời gian giải quyết, khả năng phê duyệt và giải ngân các dự án hạ tầng thiết yếu – đường, metro, chống ngập, môi trường – sẽ rút ngắn đáng kể. Nếu thành phố sử dụng tốt công cụ trái phiếu thành phố, lợi ích cụ thể là người dân có metro để đi, hạ tầng sạch hơn, thay vì tiếp tục chờ vốn ngân sách trung ương nhỏ giọt.
Phân quyền mạnh hơn và nhu cầu vốn khổng lồ cho hạ tầng đô thị
Luật phát triển đô thị không chỉ nói về tiền; nó tái định nghĩa luôn cách tổ chức quyền lực đô thị. TP.HCM được trao thêm thẩm quyền quyết định về tổ chức bộ máy, công vụ, ban hành văn bản quy phạm pháp luật, thí điểm cơ chế mới, tài chính – ngân sách, đầu tư và phát triển các mô hình kinh tế, đô thị mới. Luật cũng cho phép thành phố thí điểm cơ chế, chính sách mới hoặc những vấn đề pháp luật chưa quy định, trong tối đa 5 năm và có thể gia hạn không quá 5 năm. Đi kèm là cơ chế “phân quyền triệt để gắn với kiểm soát đa tầng” – nghĩa là thành phố có không gian hành động lớn hơn, nhưng bị giám sát chặt hơn.
Bối cảnh khiến đạo luật này trở nên cấp thiết là chuỗi nghị quyết chiến lược dành cho TP.HCM – từ Nghị quyết 31, Nghị quyết 98, các cơ chế về trung tâm tài chính quốc tế đến Nghị quyết 09 của Bộ Chính trị về xây dựng và phát triển TP.HCM trong kỷ nguyên mới. Thành phố đặt mục tiêu tăng trưởng GRDP tối thiểu 10%/năm, GRDP bình quân đầu người 14.000 USD vào năm 2030, kinh tế số chiếm khoảng 40% GRDP và hoàn thành khoảng 200 km đường sắt đô thị. Những con số này cho thấy nhu cầu vốn cho hạ tầng là khổng lồ; nếu không mở khóa cơ chế tài chính, các mục tiêu chỉ là khẩu hiệu.
Quy mô hiện tại của TP.HCM sau sắp xếp địa giới là hơn 6.770 km² với hơn 14 triệu dân; nền kinh tế khoảng 123 tỷ USD, chiếm 23,5% GDP cả nước, GRDP bình quân đầu người hơn 8.900 USD, kinh tế số trên 25% GRDP và thu ngân sách hơn một phần ba cả nước. Với quy mô này, việc tiếp tục trông vào ngân sách trung ương là không thực tế. Luật phát triển đô thị mở ra khả năng đa dạng hóa cấu trúc huy động vốn, từ đó rút ngắn quy trình ra quyết định đối với các dự án hạ tầng lớn, giúp thành phố chủ động phân bổ nguồn lực cho metro, vành đai, TOD, cảng biển, logistics, hạ tầng số, năng lượng, môi trường và chống ngập.
Trung tâm tài chính quốc tế TP.HCM: từ biểu tượng đến hạ tầng vốn thực chất
Nếu chỉ nhìn TP.HCM như một đô thị khổng lồ, ta sẽ bỏ qua tham vọng lớn hơn: biến thành phố thành trung tâm tài chính quốc tế (TTTCQG) của Việt Nam. Luật phát triển đô thị dành cơ chế riêng thúc đẩy TTTCQG tại TP.HCM, cho phép HĐND thành phố quy định việc phát hành trái phiếu đô thị, trái phiếu công trình tại trung tâm này để huy động vốn cho các dự án trọng điểm, đồng thời kết nối trung tâm tài chính với khu thương mại tự do, logistics, cảng mở, khu công nghệ cao và các khu chức năng khác. Đây là cách đặt TTTCQG vào “hạ tầng vốn” thực sự, chứ không chỉ là một tòa nhà đẹp.
Luật phát triển đô thị tiếp tục mở rộng kết nối để các trung tâm tài chính quốc tế tại TP.HCM và Đà Nẵng phát triển sản phẩm huy động vốn, kết nối đầu tư phù hợp. Thành viên trung tâm có thể cung cấp dịch vụ tài chính và dịch vụ hỗ trợ cho các tổ chức trong nước để giao dịch và thu hút vốn quốc tế, trên cơ sở tuân thủ quy định về ngoại hối, phòng chống rửa tiền và quản lý nợ công. Mục tiêu là hình thành một hệ sinh thái tài chính có khả năng kết nối với các trung tâm và thị trường tài chính quốc tế, thúc đẩy dòng vốn đầu tư vào Việt Nam.
Điểm then chốt nằm ở chỗ phát hành trái phiếu thành phố được đặt trong mối liên hệ trực tiếp với TTTCQG – nghĩa là TP.HCM tài chính không chỉ dừng ở việc là “điểm giao dịch”, mà còn là hạ tầng huy động vốn cho chính hạ tầng đô thị. Nếu thành phố xây dựng được uy tín tín dụng, chuẩn hóa thông tin, minh bạch tài chính công và kỷ luật ngân sách, trái phiếu đô thị TP.HCM hoàn toàn có thể trở thành một sản phẩm tài chính vùng – từ đó, người dân và doanh nghiệp không chỉ hưởng lợi từ hạ tầng mới, mà còn có thêm kênh đầu tư gắn với tương lai của chính thành phố mình.

Kết luận: Quyền phát hành trái phiếu là cơ hội – và phép thử kỷ luật tài chính đô thị
Luật phát triển đô thị không phải là chiếc đũa thần, nhưng là cơ hội hiếm để TP.HCM và các đô thị lớn định nghĩa lại cách mình phát triển. Quyền phát hành trái phiếu thành phố, vay vốn từ các tổ chức tài chính trong nước, nước ngoài và quốc tế, cộng với phân quyền mạnh trong quản lý hạ tầng, sẽ vô nghĩa nếu thiếu kỷ luật tài chính và văn hóa giải trình. Đến lúc xem TP.HCM và các thành phố có đủ can đảm nói “không” với những dự án kém hiệu quả, dù có vốn, để tập trung nguồn lực cho các công trình thật sự tạo ra tăng trưởng và chất lượng sống.
Với người dân, lợi ích của Luật phát triển đô thị sẽ thể hiện ở những điều rất cụ thể: thủ tục hành chính gọn hơn, hạ tầng giao thông công cộng theo mô hình TOD phát triển, cơ hội việc làm mới trong các khu kinh tế số, kinh tế sáng tạo, khu thương mại tự do và TTTCQG. Nhưng để những cam kết ấy thành hiện thực, TP.HCM phải chứng minh rằng mình xứng đáng với niềm tin mà luật này trao: biết huy động vốn quốc tế mà không đánh đổi an toàn tài chính, biết phát triển đô thị mà không bỏ rơi người dân.




