Hạ tầng điện: từ điểm yếu thành vũ khí cạnh tranh FDI
Chiến lược nâng cấp hạ tầng điện khu công nghiệp tại miền Nam là cách các địa phương biến điện năng – vốn từng là điểm nghẽn – thành lợi thế cạnh tranh trong cuộc đua thu hút đầu tư FDI công nghệ cao, đặc biệt với các nhà máy thông minh, trung tâm dữ liệu và chuỗi cung ứng toàn cầu đang chuyển dịch vào khu vực. Thay vì chờ dự án đến mới lo cấp điện, ngành điện đang chọn hướng “đi trước một bước”, đồng bộ hóa lưới điện với quy hoạch khu công nghiệp và đô thị, coi an ninh năng lượng miền Nam là nền tảng cho mục tiêu tăng trưởng hai con số. Thực hiện Nghị quyết 70-NQ/TW về bảo đảm an ninh năng lượng quốc gia, Tổng công ty Điện lực miền Nam (EVNSPC) đã và đang chủ động đầu tư, nâng cấp hạ tầng lưới điện đồng bộ với tốc độ phát triển phụ tải tại các khu công nghiệp, khu vực đón làn sóng FDI công nghệ cao trên địa bàn 8 tỉnh, thành phố phía Nam. Điều này không chỉ giải bài toán cung cấp điện, mà còn thể hiện quan điểm: nếu muốn dẫn đầu về thu hút đầu tư FDI Việt Nam, miền Nam phải dẫn đầu về chất lượng lưới điện.

EVNSPC: Dư địa nguồn điện và tiêu chí N-1 cho khu công nghiệp
Điểm khác biệt của miền Nam hiện nay là dư địa nguồn điện và cách tổ chức lưới điện hướng về nhu cầu của nhà đầu tư công nghiệp. Khu vực phía Nam đang có tổng công suất nguồn điện lắp đặt gần 37.000 MW, trong khi công suất cực đại năm 2026 chỉ khoảng 22.000 MW. Đây là con số cho thấy an ninh năng lượng miền Nam không chỉ đủ dùng, mà còn có khoảng trống để đón thêm các khu công nghiệp mới, nhất là khi sân bay Long Thành vận hành sẽ kéo theo làn sóng dự án phụ trợ. Quan trọng hơn, lưới điện cấp cho khu công nghiệp được thiết kế với dự phòng theo tiêu chí N-1: khi một phần tử gặp sự cố, vẫn có nguồn khác thay thế. Tại các khu vực yêu cầu cao về chất lượng điện năng, tiêu chí này còn được áp dụng đến cấp trung áp. Đây là thông điệp rõ ràng gửi tới nhà sản xuất: dây chuyền liên tục, sản xuất thông minh và trung tâm dữ liệu sẽ không bị "đánh đố" bởi những cú mất điện đột ngột.

Bài toán cấp điện trung tâm dữ liệu: TP.HCM chọn cách tính từ quy hoạch
Nếu EVNSPC đang xử lý hạ tầng điện khu công nghiệp ở 8 tỉnh, thì TP.HCM lại đối mặt với thách thức mới: cấp điện trung tâm dữ liệu quy mô lớn. Với tốc độ phát triển hạ tầng dữ liệu, nguồn điện đang trở thành điều kiện quan trọng, đặc biệt về khả năng cấp điện ổn định, liên tục và có dư địa mở rộng công suất trong tương lai. Theo báo cáo được trích dẫn, trong nửa đầu năm 2026, nguồn cung trung tâm dữ liệu đang được phát triển tại TP.HCM đạt 68 MW, cao hơn gấp đôi công suất đang vận hành. Đây là tín hiệu cho thấy năng lực hạ tầng số đang tăng nhanh hơn nền điện hiện hữu. UBND TP.HCM đã có văn bản yêu cầu các sở, ngành, ban quản lý khu chế xuất, khu công nghiệp, khu công nghệ cao phối hợp với chủ đầu tư hạ tầng và nhà đầu tư trung tâm dữ liệu rà soát toàn bộ dự án đang hoạt động, triển khai và nghiên cứu. Nội dung rà soát đi thẳng vào cốt lõi: địa điểm, quy mô, công suất thiết kế, nhu cầu sử dụng điện theo từng giai đoạn, công suất cực đại, thời điểm vận hành và kế hoạch mở rộng. Nói cách khác, thành phố đang xây phương án cấp điện phù hợp từ quy hoạch, thay vì sửa chữa bị động. Theo văn bản này, với các trung tâm dữ liệu có quy mô phụ tải lớn và yêu cầu cao về cấp điện, phương án cấp điện sẽ được tính toán đồng bộ với năng lực hệ thống điện khu vực và toàn thành phố, bảo đảm đáp ứng nhu cầu phụ tải theo từng giai đoạn đầu tư. Đồng thời, thành phố định hướng nghiên cứu phát triển các cụm trung tâm dữ liệu tập trung tại nơi có quỹ đất và khả năng phát triển đồng bộ hạ tầng điện, để tránh các dự án phân tán gây khó cho việc đầu tư hệ thống. Đây là cách tiếp cận mang tính cạnh tranh khu vực: gom nhu cầu, tập trung đầu tư, nâng chất lượng cấp điện trung tâm dữ liệu.

Ví dụ Tây Ninh: nâng trạm 110kV để bảo vệ sản xuất liên tục
Không chiến lược nào thuyết phục bằng các công trình cụ thể. Tại Tây Ninh – địa phương có tốc độ tăng trưởng công nghiệp cao nhờ chuyển dịch chuỗi cung ứng toàn cầu và công nghiệp phụ trợ công nghệ cao – hạ tầng điện liên tục được nâng cấp. Hiện tỉnh này có mạng lưới điện 110 kV gồm hơn 55 trạm biến áp với tổng dung lượng khoảng 5.413 MVA, con số đủ để cho thấy điện đã trở thành hạ tầng thiết yếu ngang hàng giao thông. Ở xã Cần Giuộc, nơi tập trung 5 khu công nghiệp với gần 500 doanh nghiệp, Trạm biến áp 110 kV Cần Giuộc trước đây chỉ có một máy biến áp công suất 63 MVA, đã được đầu tư thêm máy T2 và đưa vào vận hành ngày 23/8/2026, qua đó nâng khả năng cấp điện cho các khu công nghiệp và khu vực lân cận Cần Đước, Cần Giuộc. Đại diện doanh nghiệp cho biết ngành điện không chỉ đảm bảo công suất mà còn phối hợp cảnh báo, bảo trì để hệ thống vận hành ổn định, giúp doanh nghiệp an tâm duy trì sản xuất liên tục và ra quyết định mở rộng đầu tư trong tương lai. Đây chính là tác động trực tiếp lên người sử dụng: ít rủi ro dừng máy, ít tổn thất, tăng sức cạnh tranh.

Từ an ninh năng lượng miền Nam tới chiến lược thu hút FDI công nghệ cao
Điểm chung giữa EVNSPC và TP.HCM là cùng xem hạ tầng điện không chỉ là dịch vụ công ích mà là yếu tố định hình bản đồ đầu tư. Việc bảo đảm nguồn điện ổn định, chất lượng cao đã được xác định là điều kiện quan trọng để nâng sức cạnh tranh của môi trường đầu tư và hỗ trợ mục tiêu tăng trưởng kinh tế hai con số. Khi an ninh năng lượng miền Nam được củng cố bằng cả dư địa nguồn điện và tiêu chí N-1 đến năm 2028 cho cả khách hàng sinh hoạt và doanh nghiệp, thông điệp gửi đến nhà đầu tư là rõ ràng: miền Nam sẵn sàng cho những dây chuyền sản xuất tinh vi và trung tâm dữ liệu đòi hỏi độ tin cậy rất cao. Tuy vậy, để ưu thế này trở thành lợi thế cạnh tranh khu vực, các tỉnh thành cần tránh "mạnh ai nấy làm". Hạ tầng điện khu công nghiệp, quy hoạch cụm trung tâm dữ liệu, kế hoạch mở rộng trạm 110 kV phải được nhìn trong tổng thể vùng, gắn với các nút động lực như sân bay Long Thành và các trục logistics. Nếu giữ được nhịp đầu tư đi trước nhu cầu, miền Nam có thể biến bài toán cấp điện – từ đường dây, trạm biến áp đến phương án cấp điện trung tâm dữ liệu – thành một điểm cộng lớn trong mắt dòng vốn FDI công nghệ cao.







