Việt Nam hướng tới quốc gia biển mạnh: từ tầm nhìn đến cải cách thể chế

Việt Nam hướng tới quốc gia biển mạnh: từ tầm nhìn đến cải cách thể chế
Sở thích|Đông Nam Á

Quốc gia biển mạnh: khái niệm, tham vọng và bước ngoặt chính trị

Xây dựng Việt Nam thành quốc gia biển mạnh là chiến lược phát triển toàn diện dựa trên không gian biển, trong đó biển vừa là nguồn lực kinh tế, không gian sinh tồn, tuyến phòng thủ chiến lược, vừa là động lực hiện đại hóa quản trị quốc gia, đổi mới mô hình tăng trưởng và bảo đảm lợi ích lâu dài cho các thế hệ mai sau. Nghị quyết 20-NQ/TW do Ban Chấp hành Trung ương ban hành ngày 28/7 đã xác định rõ mục tiêu: đến năm 2045, Việt Nam phải trở thành quốc gia giàu từ biển, phát triển bền vững từ biển, với nền quản trị biển hiện đại và công nghệ biển tiên tiến. Nói cách khác, “quốc gia biển mạnh” không chỉ là chuyện tăng GDP từ biển, mà là tái cấu trúc cả cách ta nhìn và tổ chức không gian quốc gia.

Quy mô biển Việt Nam tự thân đã là một thông điệp chính sách: hơn 3.260 km bờ biển, vùng biển rộng khoảng 1 triệu km² và hơn 4.000 đảo lớn nhỏ. Nếu tiếp tục quản lý theo lối chia cắt hành chính, ngành nào lo việc ngành đó, thì phần lớn tiềm năng này sẽ bị “khóa chặt” trong các quy định chồng chéo. Việc Hội nghị Trung ương 3 khóa XIV dành riêng một nghị quyết cho quốc gia biển, và một hội nghị toàn quốc để quán triệt, cho thấy biển đã được đặt vào đúng vị trí: không còn là “một ngành” mà là trụ cột trong cấu trúc sức mạnh quốc gia.

Việt Nam hướng tới quốc gia biển mạnh: từ tầm nhìn đến cải cách thể chế

Từ Nghị quyết 20 đến 218: vì sao biển phải được quản lý như một chỉnh thể

Sau 8 năm thực hiện Chiến lược phát triển bền vững kinh tế biển, Việt Nam đã có những bước tiến: thể chế được bổ sung, hạ tầng cảng biển và khu kinh tế ven biển được đầu tư, nghiên cứu khoa học và công nghệ biển được chú ý. Nhưng Trung ương thẳng thắn thừa nhận: kết quả chưa tương xứng, quản trị biển chưa theo kịp yêu cầu phát triển; thể chế, chính sách còn thiếu đồng bộ; chức năng chồng chéo; quy hoạch không gian biển bất cập; cơ chế điều phối liên ngành, liên vùng kém hiệu quả. Đó là nền tảng thực tế khiến Nghị quyết 20 trở thành bước ngoặt, đồng thời buộc Chính phủ phải có một Chương trình hành động riêng – Nghị quyết 218/NQ-CP – để đưa nội dung nghị quyết vào vận hành.

Điểm then chốt là thay đổi cách nhìn về quản lý không gian biển. Trong một thời gian dài, giao thông lo cảng, thủy sản lo ngư trường, năng lượng lo dầu khí và điện gió, du lịch lo bãi biển, còn môi trường lo hệ sinh thái. Mỗi ngành có lý, nhưng trên cùng một mặt biển, mọi hoạt động đều cạnh tranh không gian và sức chịu tải của môi trường. Hệ quả là một quyết định có thể tốt với một ngành nhưng lại phá vỡ sinh kế ngành khác hoặc gây tổn hại môi trường dài hạn. Vì vậy, Nghị quyết 20 đặt quản trị biển hiện đại ở vị trí trung tâm: không gian biển, vùng bờ, hải đảo, vùng trời và lòng đất dưới biển phải được xem như một tổng thể thống nhất, được phân vùng chức năng dựa trên dữ liệu và sức chịu tải môi trường.

Việt Nam hướng tới quốc gia biển mạnh: từ tầm nhìn đến cải cách thể chế

Chín nhiệm vụ trọng tâm: kinh tế biển xanh và trách nhiệm với người dân vùng biển

Nghị quyết 218/NQ-CP là bản thiết kế hành động để biến tầm nhìn “quốc gia biển mạnh” thành công việc cụ thể của Chính phủ, các bộ ngành và địa phương. Chương trình này xác định các nhiệm vụ trọng tâm, có tính đột phá trong giai đoạn 2026–2030, tầm nhìn đến năm 2045; được lồng ghép với kế hoạch phát triển kinh tế – xã hội, đầu tư công, tài chính – ngân sách và quy hoạch hằng năm. Mục tiêu đến 2030 rất rõ: tăng tỷ trọng đóng góp của các địa phương ven biển, phát triển các ngành kinh tế biển hiện đại, xanh, thông minh; hoàn thiện hạ tầng biển; nâng cao năng lực khoa học, công nghệ, chuyển đổi số; bảo vệ môi trường, bảo đảm quốc phòng, an ninh và nâng cao đời sống người dân vùng biển, đảo.

Chín nhóm nhiệm vụ mà Chính phủ giao không phải danh sách “hình thức”, mà là trục hành động buộc bộ, ngành phải tự thay đổi. Từ đổi mới tư duy, nâng cao nhận thức về quốc gia biển mạnh và quản trị biển; hoàn thiện thể chế, đổi mới quy hoạch không gian biển; huy động và sử dụng hiệu quả các nguồn lực, phát triển doanh nghiệp biển; thúc đẩy khoa học, công nghệ và nguồn nhân lực; đến phát triển các ngành kinh tế biển hiện đại, xanh, thông minh và hình thành các ngành kinh tế biển mới. Nói thẳng, đây là một “bài kiểm tra” về năng lực thực thi: nếu bộ ngành vẫn tư duy cục bộ, không dám phân quyền, không dám đổi mới mô hình kinh tế biển xanh, thì mọi mục tiêu đẹp đẽ chỉ dừng lại ở văn bản.

Việt Nam hướng tới quốc gia biển mạnh: từ tầm nhìn đến cải cách thể chế

Cải cách pháp lý và quản lý không gian biển: tháo gỡ nút thắt thể chế

Điểm khó nhất trong quản trị biển không còn là thiếu chiến lược, mà là thể chế rời rạc, quy định chồng chéo. Chính phủ vì thế đặt nhiệm vụ hoàn thiện thể chế và đổi mới quy hoạch không gian biển quốc gia lên nhóm ưu tiên hàng đầu. Chương trình hành động yêu cầu rà soát, sửa đổi, bổ sung, hoàn thiện pháp luật về biển, hải đảo và các lĩnh vực liên quan như đất đai, tài nguyên, môi trường, khoa học, công nghệ; bảo đảm hệ thống pháp luật thống nhất, minh bạch, ổn định, khả thi và có sức cạnh tranh quốc tế; đồng thời tháo gỡ điểm nghẽn, xung đột và chồng chéo đang cản trở phát triển.

Một trọng tâm nữa là xây dựng khung pháp lý rõ ràng cho quản lý tài nguyên và quản lý không gian biển. Nhiệm vụ hoàn thiện Luật Tài nguyên, môi trường biển và hải đảo (sửa đổi) được giao với yêu cầu quy định cụ thể cơ chế giao, cho thuê, sử dụng và khai thác không gian biển; nghĩa vụ tài chính; bảo vệ tài nguyên, môi trường; phòng ngừa, kiểm soát ô nhiễm và xử lý xung đột sử dụng biển. Quy hoạch không gian biển quốc gia thời kỳ 2021–2030, tầm nhìn đến 2050 sẽ được rà soát, cập nhật và điều chỉnh; kèm theo đó là các quy định, hướng dẫn kỹ thuật về phân vùng chức năng, cơ chế cập nhật linh hoạt, bản đồ số và cơ sở dữ liệu phục vụ quản lý, giám sát. Nếu không coi dữ liệu và pháp luật là nền tảng, mọi khẩu hiệu về quản trị biển hiện đại sẽ chỉ là lời hứa.

Việt Nam hướng tới quốc gia biển mạnh: từ tầm nhìn đến cải cách thể chế

Kết luận: quốc gia biển mạnh là bài thi dài hạn của cải cách nhà nước

Mục tiêu đến năm 2045 trở thành quốc gia biển mạnh – giàu từ biển, phát triển bền vững từ biển, với quản trị và công nghệ biển tiên tiến – là một cam kết chính trị lớn, nhưng đồng thời là phép thử dài hạn cho năng lực cải cách nhà nước. Nghị quyết 20-NQ/TW đã đặt lại nền tảng tư duy: không thể nhìn biển bằng những lát cắt riêng lẻ, càng không thể tiếp tục các mô hình phát triển “đánh đổi môi trường lấy tăng trưởng”. Nghị quyết 218/NQ-CP biến tầm nhìn này thành chín nhiệm vụ cụ thể, gắn với từng bộ, từng địa phương và từng mốc thời gian.

Tuy vậy, câu hỏi thật sự nằm ở chỗ: chúng ta có dám thay đổi cách tổ chức quyền lực và lợi ích trên không gian biển hay không. Kinh tế biển xanh và quản lý không gian biển hiện đại đòi hỏi phân quyền rõ nhưng cũng buộc phải tăng trách nhiệm giải trình; đòi hỏi doanh nghiệp biển mạnh lên nhưng không thể phá nát hệ sinh thái; đòi hỏi hạ tầng hiện đại nhưng không bỏ lại cộng đồng ven biển phía sau. Nếu giải được những nghịch lý này, Việt Nam không chỉ tiến gần mục tiêu quốc gia biển mạnh, mà còn tìm ra mô hình quản trị mới cho cả nền kinh tế.

Việt Nam hướng tới quốc gia biển mạnh: từ tầm nhìn đến cải cách thể chế

Sammfy nhận hoa hồng khi bạn mua sắm qua liên kết của chúng tôi, bạn không phải trả thêm chi phí.

You May Also Like

Comments
Viết gì đó...
Chưa có bình luận nào. Hãy là người đầu tiên chia sẻ suy nghĩ!