Quốc gia biển mạnh: khái niệm mới cho một tham vọng dài hạn
Quốc gia biển mạnh là hình mẫu phát triển trong đó biển không chỉ là nguồn tài nguyên, mà là không gian sinh tồn, sản xuất và bảo vệ Tổ quốc, được quản trị bằng khoa học, công nghệ hiện đại để tạo ra kinh tế biển bền vững, nâng cao đời sống người dân ven biển, đồng thời giữ vững chủ quyền và lợi ích quốc gia trên biển. Nghị quyết 20-NQ/TW được Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm ký ban hành ngày 28/7 như một lời khẳng định: Việt Nam không bằng lòng với vị thế một quốc gia có biển, mà đặt mục tiêu trở thành quốc gia biển mạnh. Tại Hội nghị Trung ương 3 khóa XIV, biển được nhìn nhận trong tổng thể không gian phát triển, sức mạnh quốc gia và nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc, chứ không bó hẹp trong vài ngành kinh tế như trước. Cách nhìn mới này là bước ngoặt: kinh tế biển chỉ là một thành tố trong mục tiêu lớn hơn về sức mạnh tổng hợp, từ quản trị biển hiện đại đến văn hóa biển. Câu hỏi không còn là “khai thác được gì từ biển”, mà là “chúng ta làm chủ và quản trị không gian biển ra sao trong nhiều thập kỷ tới?”.

Từ tư duy ngành dọc đến quản trị không gian và phân vùng chức năng biển
Một trong những điểm dũng cảm nhất của Nghị quyết 20-NQ/TW là thẳng thắn thừa nhận quản trị biển hiện nay chưa theo kịp yêu cầu phát triển, chính sách còn chồng chéo, quy hoạch không gian biển bất cập và cơ chế điều phối liên ngành, liên vùng chưa hiệu quả. Hệ quả dễ thấy là các hoạt động giao thông, thủy sản, năng lượng, du lịch, môi trường đang cạnh tranh gay gắt trên cùng một dải biển, trong khi sức chịu tải hệ sinh thái có hạn. Khi mỗi ngành tối ưu riêng lợi ích của mình, chi phí môi trường và xã hội lại dồn về cộng đồng ven biển. Nghị quyết vì thế đẩy quản trị biển hiện đại lên vị trí trung tâm: không gian biển, vùng bờ, hải đảo, vùng trời và lòng đất phải được xem như một chỉnh thể thống nhất, được phân vùng chức năng trên cơ sở dữ liệu và sức chịu tải môi trường, kèm cơ chế điều phối rõ ràng giữa Trung ương, địa phương, doanh nghiệp và cộng đồng. Mục tiêu đến năm 2030 là hoàn thành 100% phân vùng chức năng biển cho từng ngành, lĩnh vực, địa phương, đồng thời xây dựng hệ thống quản trị biển dựa trên khoa học, công nghệ và dữ liệu số.

Canh tác biển Việt Nam: biến “cánh đồng cuối cùng” thành động lực tăng trưởng
Nếu quản trị không gian là khung, thì canh tác biển Việt Nam là nội dung sản xuất mới mà Nghị quyết ngầm đặt kỳ vọng trở thành động lực cho kinh tế biển bền vững. Trong bối cảnh diện tích nuôi trồng thủy sản trên đất liền gần như đã tới hạn, nhiều chuyên gia gọi đại dương là “cánh đồng cuối cùng” của Việt Nam. Với hơn 3.260 km bờ biển, trên 1 triệu km² vùng đặc quyền kinh tế và hơn 4.000 đảo lớn nhỏ, Việt Nam có lợi thế hàng đầu khu vực để phát triển nuôi biển quy mô lớn. Theo Tổ chức Lương thực và Nông nghiệp Liên hợp quốc, nếu dùng ít nhất 0,1% diện tích vùng đặc quyền kinh tế để nuôi cá biển, Việt Nam có thể sản xuất ít nhất 10 triệu tấn cá mỗi năm, chưa kể nhuyễn thể và rong biển. Điểm mới về tư duy là chuyển từ “khai thác” sang “canh tác”: nuôi cá, nuôi tôm đi cùng “nuôi nước”, nuôi dưỡng môi trường và hệ sinh thái. Nuôi biển công nghiệp có thể kết hợp với du lịch, điện gió ngoài khơi, dầu khí và các ngành kinh tế biển khác để khai thác hiệu quả không gian biển, tạo thêm chuỗi giá trị thay vì chỉ tăng sản lượng thô. Nếu làm đúng, canh tác biển sẽ vừa mở rộng dư địa tăng trưởng hai con số, vừa giảm áp lực lên nguồn lợi tự nhiên ven bờ, giúp kinh tế biển Việt Nam tiến gần hơn mục tiêu hiện đại, xanh và bền vững.

Không gian biển như nền tảng an ninh – kinh tế và mục tiêu đến 2030
Nghị quyết 20-NQ/TW không chỉ nói về tăng trưởng mà còn đặt rõ biển là không gian gắn với sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, yêu cầu mọi quy hoạch, chiến lược, chương trình phát triển phải phục vụ bảo vệ chủ quyền, quyền chủ quyền và quyền tài phán quốc gia, đồng thời tăng năng lực phòng thủ trên biển. Định hình không gian biển, từ phân vùng chức năng đến dữ liệu số, vì thế là nền tảng để vừa phát triển kinh tế, vừa giữ vững môi trường hòa bình, ổn định. Một câu nói đáng trích là: “Đến năm 2030, tổng GRDP của các tỉnh, thành phố ven biển đóng góp trên 70% GDP cả nước”. Con số này cho thấy sự dịch chuyển trọng tâm phát triển sang dải ven biển và hải đảo. Nghị quyết cũng đặt mục tiêu đến năm 2030 hình thành hệ thống quản trị biển hiện đại, quản lý hiệu quả tài nguyên và không gian biển, từng bước làm chủ biển xa, biển sâu và các không gian phát triển mới trên biển, đồng thời nâng cao đời sống Nhân dân vùng ven biển, hải đảo và gìn giữ văn hóa biển. Đến năm 2030, hệ thống cơ sở dữ liệu quốc gia về biển phải được hoàn thành, số hóa và chia sẻ trong quản lý nhà nước – nền tảng không thể thiếu của một quốc gia biển mạnh.

Kinh tế biển bền vững: thước đo thực chất của tham vọng quốc gia biển mạnh
Điểm đáng chú ý trong cách tiếp cận mới là kinh tế biển bền vững được coi là thước đo thực chất cho tham vọng quốc gia biển mạnh. Sau 8 năm thực hiện Chiến lược phát triển bền vững kinh tế biển, hạ tầng cảng biển, khu kinh tế và đô thị ven biển đã được đầu tư, đời sống một bộ phận người dân ven biển, hải đảo được cải thiện. Tuy vậy, kết quả vẫn chưa tương xứng với tiềm năng và vị thế, khi khoa học, công nghệ, dữ liệu và nhân lực biển chưa đáp ứng yêu cầu, ô nhiễm và suy giảm nguồn lợi thủy sản còn diễn biến phức tạp. Nghị quyết mới vì thế yêu cầu kinh tế biển phải phát triển hiện đại, có năng lực cạnh tranh cao, nhưng trên nền tảng quản lý, khai thác, sử dụng tài nguyên và không gian biển một cách hiệu quả, bền vững, bảo tồn và phục hồi hệ sinh thái biển. Đó là hệ thống nhiệm vụ từ tài nguyên, môi trường, quy hoạch, dữ liệu, quản lý tổng hợp vùng bờ tới phát triển sinh kế cộng đồng ven biển, hải đảo. Nếu các tỉnh, thành phố ven biển thực sự đóng góp trên 70% GDP cả nước vào năm 2030 mà không đánh đổi môi trường và an sinh xã hội, khi đó khái niệm “quốc gia biển mạnh” mới mang nội dung kinh tế – xã hội vững chắc, không chỉ là khẩu hiệu.







