Quốc gia biển mạnh: Việt Nam lần đầu vạch rõ lộ trình quyền lực đại dương
Xây dựng quốc gia biển mạnh là chiến lược huy động toàn diện không gian, tài nguyên, hạ tầng, khoa học công nghệ và cộng đồng cư dân ven biển để kinh tế biển trở thành động lực tăng trưởng chủ đạo, gắn chặt với bảo vệ môi trường, quốc phòng, an ninh và nâng cao đời sống người dân vùng biển, đảo, qua đó định hình lại vị thế quốc gia trên bản đồ đại dương thế giới. Chính phủ đã ban hành Nghị quyết 218/NQ-CP ngày 7/8/2026, phê duyệt Chương trình hành động thực hiện Nghị quyết 20-NQ/TW của Trung ương về xây dựng và phát triển Việt Nam trở thành quốc gia biển mạnh. Đây không chỉ là bước đi thủ tục; nó đánh dấu lần đầu chiến lược biển Việt Nam được cụ thể hóa thành danh mục nhiệm vụ quản trị và điều hành, có cơ quan chủ trì, cơ quan phối hợp, kết quả và thời hạn hoàn thành rõ ràng.
Thể chế và quy hoạch không gian biển: cuộc "đại phẫu" để mở khóa phát triển kinh tế biển
Điểm đột phá quan trọng nhất của Chương trình là đặt hoàn thiện thể chế và quy hoạch không gian biển quốc gia ở vị trí trung tâm chiến lược biển Việt Nam. Hệ thống pháp luật về biển, hải đảo, đất đai, tài nguyên, môi trường, khoa học và công nghệ sẽ được rà soát, sửa đổi, bổ sung để bảo đảm thống nhất, đồng bộ, minh bạch, ổn định và có sức cạnh tranh quốc tế, đồng thời tháo gỡ các điểm nghẽn, chồng chéo, mâu thuẫn tồn tại lâu nay. Quy hoạch không gian biển quốc gia thời kỳ 2021-2030, tầm nhìn đến năm 2050 sẽ được cập nhật, điều chỉnh, phân vùng chức năng, kèm bản đồ số và cơ sở dữ liệu phục vụ giám sát thực hiện. Đây là thay đổi mang tính "luật chơi": doanh nghiệp biển, địa phương ven biển không thể tiếp tục phát triển theo kiểu manh mún, mà phải dịch chuyển sang mô hình sử dụng không gian biển có trật tự, dựa trên cơ chế giao, cho thuê, khai thác rõ ràng cùng nghĩa vụ tài chính và trách nhiệm bảo vệ tài nguyên, môi trường.

Quản trị biển quốc gia: chuyển từ tư duy quản lý hành chính sang tư duy quyền lực biển
Nghị quyết 218 đặt nhiệm vụ đổi mới tư duy, nâng cao nhận thức về phát triển quốc gia biển mạnh và nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản trị biển quốc gia lên hàng đầu. Điều này cho thấy, nếu thể chế và quy hoạch là "hạ tầng cứng" thì quản trị biển quốc gia chính là "hạ tầng mềm" quyết định việc chiến lược biển Việt Nam có đi vào cuộc sống hay không. Quản trị biển không còn là chuyện riêng của một vài bộ ngành, mà là bài toán liên ngành, liên vùng, gắn với cơ chế phối hợp, phân quyền, kiểm soát xung đột trong sử dụng biển và lồng ghép vào kế hoạch phát triển kinh tế – xã hội, đầu tư công, tài chính – ngân sách, quy hoạch hằng năm. Cách tiếp cận này buộc chính quyền các địa phương ven biển phải nhìn biển như phần mở rộng không gian phát triển, không chỉ là nơi khai thác tài nguyên, mà là không gian quyền lực, an ninh và bản sắc văn hóa cần được quản trị chuyên nghiệp.
Các mục tiêu kinh tế biển: từ tăng tỷ trọng ven biển tới hệ sinh thái ngành biển mới
Trong giai đoạn 2026-2030, Chương trình hành động đặt mục tiêu hoàn thành các chỉ tiêu chủ yếu để tiến gần hình ảnh quốc gia biển mạnh: tăng tỷ trọng đóng góp của các địa phương ven biển, phát triển các ngành kinh tế biển hiện đại, xanh, thông minh, hoàn thiện hạ tầng biển, nâng cao năng lực khoa học, công nghệ, chuyển đổi số, bảo vệ môi trường, bảo đảm quốc phòng, an ninh và nâng cao đời sống nhân dân vùng biển, đảo. Một phát biểu đáng chú ý là: "Với hơn 3.260km bờ biển và vùng đặc quyền kinh tế rộng lớn, Việt Nam đứng trước cơ hội phát triển nuôi biển công nghiệp, hình thành động lực mới cho kinh tế biển và xuất khẩu thủy sản". Cùng với đó, chiến lược biển Việt Nam mở cửa cho các ngành kinh tế biển mới như nuôi biển công nghệ cao, dược liệu và công nghệ sinh học biển, khử mặn nước biển, điện sóng, hydrogen, amoniac xanh và hạ tầng cáp ngầm biển, cho thấy tham vọng dịch chuyển sang mô hình kinh tế biển xanh, phát thải thấp.
Tác động xã hội và kết luận: quốc gia biển mạnh phải là quốc gia người dân biển mạnh
Đằng sau những khái niệm kỹ thuật như quy hoạch không gian biển hay quản trị biển quốc gia là các thay đổi rất cụ thể đối với người dân ven biển: hạ tầng cảng, giao thông, dịch vụ logistics được cải thiện; cơ hội việc làm trong các ngành kinh tế biển hiện đại, xanh, thông minh; năng lực khoa học, công nghệ và chuyển đổi số phục vụ sản xuất, dịch vụ biển; môi trường được bảo vệ tốt hơn; đời sống văn hóa biển được xây dựng bài bản; quốc phòng, an ninh trên biển, đảo được bảo đảm. Với vùng đặc quyền kinh tế như Cà Mau rộng hơn 120.000km2, nếu không có cơ chế, chính sách đặc thù kết hợp phát triển kinh tế với bảo đảm quốc phòng, an ninh thì lợi thế không gian biển dễ trở thành gánh nặng quản lý. Vì vậy, một quốc gia biển mạnh trước hết phải là quốc gia có cộng đồng cư dân biển mạnh: được hưởng lợi từ phát triển kinh tế biển, tham gia quản trị biển và là chủ thể trong xây dựng, bảo vệ Tổ quốc trên biển chứ không chỉ là người đứng bên lề của chiến lược.






