Luật tốt phải biến ý tưởng thành năng lực cạnh tranh
Công nghiệp văn hóa là hệ sinh thái biến sáng tạo, tri thức và tài nguyên văn hóa thành sản phẩm, dịch vụ có giá trị kinh tế, đồng thời góp phần định hình bản sắc và sức hấp dẫn của một quốc gia. Vì thế, Luật Phát triển công nghiệp văn hóa không nên dừng ở việc khuyến khích sáng tạo; luật phải giúp ý tưởng đi được từ khâu hình thành đến sản xuất, bảo vệ quyền và tiếp cận thị trường. Dự án luật đang được cho ý kiến tại Kỳ họp thứ hai, Quốc hội khóa XVI. Chiều 24/10, Quốc hội thảo luận tại tổ về dự án này cùng một số dự án luật khác; Thủ tướng Lê Minh Hưng cho biết Chính phủ sẽ tiếp tục nghiên cứu ý kiến đại biểu và thẩm tra để hoàn thiện dự thảo, báo cáo lại Quốc hội. Các ý kiến nhấn mạnh khuôn khổ pháp lý cần tạo thuận lợi cho sáng tạo, huy động nguồn lực xã hội, đồng thời giữ hiệu quả quản lý và bảo đảm nguồn lực công được sử dụng đúng mục đích.

Bảo vệ người sáng tạo để sản phẩm có đường ra thị trường
Chính sách hỗ trợ chỉ có ý nghĩa nếu người tạo ra giá trị được bảo vệ và có thể khai thác thành quả lao động. Đầu tư vào phần mềm sáng tạo và nền tảng số hỗ trợ quyền sở hữu trí tuệ có thể giúp cá nhân, doanh nghiệp vừa và nhỏ tiếp cận công nghệ, phát triển sản phẩm văn hóa và khai thác tài nguyên văn hóa hiệu quả hơn. Đó là lợi ích thiết thực với những người thường thiếu công cụ và nguồn lực để đưa tác phẩm ra khỏi phạm vi sáng tạo ban đầu. Nhưng nền tảng số không thể thay thế luật về quyền tác giả hay cơ chế giải quyết tranh chấp. Đại biểu Nguyễn Phương Thủy lưu ý rằng quyền tác giả phát sinh khi tác phẩm được sáng tạo và thể hiện dưới hình thức vật chất nhất định; dấu thời gian trên nền tảng chỉ hỗ trợ chứng minh quá trình hình thành, không tự xác lập quyền sở hữu. Dự luật vì vậy cần nói rõ phạm vi, trách nhiệm vận hành, kết nối dữ liệu và quan hệ với các hệ thống hiện hành. Hỗ trợ mà thiếu ranh giới pháp lý sẽ tạo thêm bất định thay vì khơi thông sáng tạo.

Chọn trọng điểm, không dàn trải nguồn lực
Thủ tướng Lê Minh Hưng nhấn mạnh cần ưu tiên những sản phẩm công nghiệp văn hóa có năng lực cạnh tranh để tạo thương hiệu riêng cho Việt Nam. Đây là hướng đi thuyết phục hơn việc hỗ trợ mọi lĩnh vực theo cùng một cách: nguồn lực có trọng tâm giúp hình thành sản phẩm đủ sức đứng vững, còn tiêu chí rõ ràng hạn chế nguy cơ chính sách chia nhỏ nguồn lực mà không tạo được dấu ấn. Tuy vậy, lựa chọn trọng điểm không nên biến thành cơ chế chỉ ưu ái những chủ thể đã có quy mô. Luật cần tạo cơ hội thử nghiệm, tiếp cận công nghệ và bảo vệ quyền cho cả cá nhân, doanh nghiệp nhỏ; đồng thời rà soát cơ chế thử nghiệm có kiểm soát để tập trung vào đặc thù của công nghiệp văn hóa và thống nhất với pháp luật về khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo. Khi sản phẩm được nuôi dưỡng từ ý tưởng đến thị trường, ưu tiên mới có thể tạo năng lực cạnh tranh thay vì chỉ là danh mục trên giấy.

Thương hiệu văn hóa cần được xây bằng cả chuỗi giá trị
Một sản phẩm văn hóa có thể tạo giá trị vượt xa lần phát hành đầu tiên: quyền sở hữu trí tuệ cho phép phát triển sản phẩm phái sinh, chuyển giao, mở rộng thị trường và hình thành chuỗi giá trị mới. Do đó, sức cạnh tranh không chỉ nằm ở ý tưởng hấp dẫn mà còn phụ thuộc vào khả năng bảo vệ quyền, tổ chức sản xuất, phân phối và khai thác lâu dài. Đây là mắt xích nối chính sách hỗ trợ sáng tạo với sự hình thành thương hiệu văn hóa. Hạ tầng cũng cần được hiểu rộng hơn nhà xưởng hay địa điểm biểu diễn. Thủ tướng lưu ý hệ sinh thái có thể liên kết di sản, cộng đồng, không gian sáng tạo, hạ tầng số và dịch vụ văn hóa thành một mạng lưới; việc tổ chức phải tính đến bảo vệ di sản, môi trường và quyền tham gia, hưởng lợi chính đáng của cộng đồng, nghệ nhân. Kết luận, Luật Phát triển công nghiệp văn hóa chỉ tạo lợi thế cạnh tranh khi vừa mở cửa cho sáng tạo, vừa bảo vệ người làm ra giá trị, vừa tập trung nguồn lực vào sản phẩm có khả năng phát triển thành thương hiệu riêng.







