Công nghệ chiến lược Việt Nam: cuộc chơi dài hơi, không còn chỗ cho nghiên cứu vô chủ
Công nghệ chiến lược Việt Nam là tập hợp những công nghệ lõi và sản phẩm chủ lực được nhà nước ưu tiên đầu tư, tổ chức lại hạ tầng nghiên cứu và cơ chế tài chính nhằm giúp quốc gia làm chủ tri thức, nâng cao năng lực cạnh tranh và hình thành các doanh nghiệp dẫn dắt trên chuỗi giá trị toàn cầu. Hướng đi mới này không còn chấp nhận những nhiệm vụ khoa học tách rời thị trường; nó đặt yêu cầu rõ ràng: mọi đầu tư công nghệ phải gắn với bài toán cụ thể, sản phẩm cụ thể và chủ thể chịu trách nhiệm cụ thể, trước hết là doanh nghiệp.
Bối cảnh khởi động lộ trình mới khá rõ: cạnh tranh công nghệ toàn cầu ngày càng gay gắt, buộc Việt Nam phải xây dựng chuỗi liên thông từ nghiên cứu, phát triển, thử nghiệm đến thương mại hóa sản phẩm để giảm phụ thuộc và tránh đầu tư trùng lặp. Từ cấp bộ, ngành đến địa phương, hàng loạt động thái chính sách đang được kích hoạt để biến khái niệm công nghệ chiến lược thành những nhiệm vụ cụ thể, thay vì khẩu hiệu chung chung.
Một câu nói có thể trích dẫn là: "Chương trình khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo quốc gia đặc biệt về công nghệ chiến lược đặt mục tiêu giai đoạn 2026-2030 làm chủ tối thiểu 4 công nghệ chiến lược, phát triển và thương mại hóa tối thiểu 15 sản phẩm công nghệ chiến lược, trong đó tối thiểu 5 sản phẩm được thương mại hóa tại thị trường khu vực hoặc quốc tế; phát triển tối thiểu 20 doanh nghiệp làm chủ công nghệ, sản phẩm công nghệ chiến lược, trong đó tối thiểu 5 doanh nghiệp có sản phẩm tham gia chuỗi giá trị toàn cầu". Đây là tham vọng hiếm khi được định lượng cụ thể đến vậy trong các chương trình khoa học trước đây.
Hạ tầng phòng thí nghiệm quốc gia: 8 phòng lab, 4 trung tâm và bài toán tránh xây tượng đài
Một trụ cột then chốt của lộ trình công nghệ chiến lược Việt Nam là phát triển hệ thống phòng thí nghiệm trọng điểm quốc gia và trung tâm nghiên cứu, thử nghiệm gắn với danh mục công nghệ, sản phẩm ưu tiên. Mục tiêu đến năm 2030 là nâng cấp, đầu tư mới và đưa vào vận hành tối thiểu 8 phòng thí nghiệm trọng điểm quốc gia và 4 trung tâm nghiên cứu, thử nghiệm quốc gia. Nếu được triển khai đúng, đây sẽ là “xương sống” hạ tầng cho các công nghệ chiến lược Việt Nam.
Điểm đáng nói là chúng không được định nghĩa như những “nhà kính” tách rời thị trường. Hệ thống này phải phục vụ trực tiếp các nhiệm vụ phát triển công nghệ chiến lược, gắn với mục tiêu làm chủ tối thiểu 10 công nghệ lõi phục vụ sản phẩm công nghệ chiến lược và các bài toán lớn quốc gia. Việc xây dựng nền tảng số quản lý thông tin, kết nối và hỗ trợ khai thác dùng chung hệ thống, dự kiến vận hành từ quý II/2027, cho thấy định hướng coi phòng thí nghiệm quốc gia là tài sản chung chứ không phải “lãnh địa” của vài đơn vị.
Nhưng rủi ro không nhỏ: nếu việc lựa chọn địa điểm, mô hình vận hành và cơ chế khai thác không bám sát nhu cầu doanh nghiệp, 8 phòng lab và 4 trung tâm này rất dễ trở thành những tượng đài tốn kém mà ít ai dùng. Đó là lý do cần giám sát chặt việc rà soát hạ tầng hiện có, tránh đầu tư trùng lặp và ưu tiên các mảng công nghệ thực sự gắn với bài toán thị trường, như bán dẫn, năng lượng, vật liệu tiên tiến – những lĩnh vực đã có các phòng sạch, trung tâm nano và năng lượng làm nền tảng ban đầu.
Ngành Công Thương: 3 bài toán lớn, 22 nhóm sản phẩm và doanh nghiệp ở ghế lái
Nếu hạ tầng lab là “đường băng”, thì kế hoạch công nghệ chiến lược ngành Công Thương chính là nơi định nghĩa những chuyến bay cụ thể. Quyết định 2159/QĐ-BCT đã cụ thể hóa nhiệm vụ phát triển công nghệ chiến lược thuộc lĩnh vực Công Thương, bám theo các quyết định về danh mục công nghệ và sản phẩm chiến lược của Thủ tướng. Quan trọng hơn, kế hoạch này từ chối cách làm cũ: không liệt kê công nghệ một cách khô cứng, mà bắt đầu từ 3 bài toán lớn của ngành.
Ba bài toán đó là bảo đảm an ninh năng lượng cho tăng trưởng cao với hệ thống điện và nhiên liệu xanh, thông minh, tự chủ; tự chủ công nghiệp, nâng cao tỷ lệ nội địa hóa và chuỗi giá trị sản xuất xanh, thông minh, giá trị gia tăng cao; và hiện đại hóa thương mại bằng dữ liệu, logistics thông minh và chuỗi cung ứng tin cậy. Tương ứng với mỗi bài toán, kế hoạch cấu trúc thành 3 nhóm nhiệm vụ với 22 nhóm sản phẩm công nghệ chiến lược, triển khai giai đoạn 2026–2030. Đây là cách tiếp cận “đầu ra trước, công nghệ sau” – một sự thay đổi đáng hoan nghênh.
Điểm xoay trục quan trọng nhất là vai trò của doanh nghiệp. Kế hoạch xác định doanh nghiệp là lực lượng dẫn dắt đầu tư phát triển và thương mại hóa sản phẩm công nghệ chiến lược, còn nhà nước giữ vai trò kiến tạo thông qua cơ chế, hạ tầng và đồng đầu tư. Các nhiệm vụ phải xuất phát từ nhu cầu thực tiễn, lấy doanh nghiệp làm hạt nhân, tăng cường sự tham gia của viện, trường, hướng tới nhiệm vụ quy mô lớn cho những nhu cầu chung. Nếu mô hình này vận hành đúng, đổi mới sáng tạo doanh nghiệp sẽ chuyển từ “bị động nhận hỗ trợ” sang chủ động đặt hàng khoa học, biến phòng thí nghiệm quốc gia thành đối tác R&D thay vì nhà cung cấp dịch vụ đo kiểm thuần túy.
Cơ chế tài chính công nghệ: linh hoạt hơn, nhưng có theo kịp tốc độ thị trường?
Không có cơ chế tài chính công nghệ linh hoạt, mọi tham vọng công nghệ chiến lược Việt Nam sẽ kẹt trong phòng họp. Dự thảo nghị định sửa nhiều quy định chi tiết của Luật khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo đang cố gắng xử lý nút thắt này. Một điểm mới quan trọng là cách lập dự toán kinh phí đối với các chương trình, nhiệm vụ phục vụ phát triển công nghệ chiến lược: dự toán được lập trên cơ sở quyết định phê duyệt chương trình, nhiệm vụ của cơ quan có thẩm quyền và đề xuất kinh phí dự kiến.
Đối với nhiệm vụ cấp bách và các nhiệm vụ theo nghị quyết của Đảng, Chính phủ, dự toán được lập dựa trên văn bản chỉ đạo và đề xuất kinh phí của các bộ, ngành, địa phương. Nói thẳng, đây là bước thừa nhận rằng quy trình dự toán thường niên không đủ nhanh để xử lý công nghệ chiến lược và nhiệm vụ cấp bách. Cùng với đó, dự thảo đề xuất rút ngắn thời gian phê duyệt nhiệm vụ khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo xuống tối đa 90 ngày kể từ ngày hết hạn nộp hồ sơ đề nghị xét tài trợ, đặt hàng.
Về phía nguồn lực, kế hoạch công nghệ chiến lược ngành Công Thương cho thấy cấu trúc tài chính đa nguồn: ngân sách khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số, các nguồn ngân sách khác, cộng với kinh phí của tổ chức chủ trì, doanh nghiệp, cá nhân, hợp tác quốc tế và các nguồn tài chính hợp pháp khác. Mô hình đồng đầu tư này phù hợp với logic doanh nghiệp dẫn dắt, nhưng câu hỏi còn bỏ ngỏ là liệu thủ tục giải ngân có đủ đơn giản để doanh nghiệp chấp nhận tham gia, hay họ sẽ tiếp tục chọn dùng vốn tự có thay vì gắn với các ràng buộc ngân sách nhà nước.

Trao quyền cho tổ chức thực hiện và kết nối “ba nhà”: điều kiện để sản phẩm làm chủ 2030 không chỉ nằm trên giấy
Một đột phá mềm nhưng có ý nghĩa dài hạn là thay đổi cách quản lý, sử dụng kết quả nhiệm vụ khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo. Dự thảo nghị định đề xuất cơ chế mới, trong đó trong những trường hợp không cần Nhà nước nắm giữ vì lợi ích chung, tổ chức chủ trì có cơ sở chủ động hơn trong quản lý, sử dụng kết quả nghiên cứu. Đây là điều kiện cần để khuyến khích viện, trường và doanh nghiệp đổ thêm nguồn lực vào R&D, vì họ nhìn thấy phần sở hữu rõ ràng hơn.
Trên thực tế, mô hình liên kết “3 nhà” – Nhà nước, trường đại học, doanh nghiệp – đã được một số địa phương thử nghiệm. Có nơi đã thành lập trung tâm đổi mới sáng tạo trực thuộc cơ quan khoa học và công nghệ, tập trung vào xác định nhu cầu, đặt hàng nhiệm vụ, kết nối chuyên gia, triển khai, đánh giá kết quả, chuyển giao và thương mại hóa sản phẩm, đồng thời xây dựng nền tảng số kết nối cung – cầu khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo. Đây là lớp keo kết dính giữa phòng thí nghiệm quốc gia, doanh nghiệp và chính quyền địa phương.
Ở cấp bộ chuyên ngành, Bộ Nông nghiệp và Môi trường đã gửi công văn đề nghị các đơn vị thuộc bộ, địa phương, doanh nghiệp và giới khoa học đề xuất nhiệm vụ phát triển công nghệ chiến lược, sản phẩm công nghệ chiến lược, với yêu cầu phải xuất phát từ nhu cầu thực tiễn, thị trường, lợi thế ngành, địa phương và ưu tiên nhiệm vụ có tính cấp thiết, tính mới, khả năng làm chủ công nghệ và thương mại hóa. Khi các đề xuất này được lọc kỹ, gắn với hạ tầng lab trọng điểm và cơ chế tài chính linh hoạt, mục tiêu đến 2030 làm chủ tối thiểu 4 công nghệ chiến lược, 15 sản phẩm công nghệ chiến lược và 20 doanh nghiệp làm chủ sản phẩm chiến lược mới có cơ hội trở thành hiện thực, thay vì thêm một “chương trình quốc gia” đóng bìa đẹp nhưng khó đo hiệu quả.






