Công nghệ chiến lược Việt Nam: Từ định nghĩa đến bước ngoặt mới
Công nghệ chiến lược Việt Nam là tập hợp các công nghệ lõi và sản phẩm then chốt được Nhà nước ưu tiên đầu tư để nâng cao năng lực tự chủ, năng lực cạnh tranh và khả năng tham gia chuỗi giá trị toàn cầu, gắn với hệ sinh thái đổi mới sáng tạo quốc gia và mục tiêu phát triển kinh tế – xã hội dài hạn. Ngày 6/8/2026, Phó Thủ tướng Hồ Quốc Dũng ký Quyết định 1493/QĐ-TTg phê duyệt Chương trình khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo quốc gia đặc biệt về công nghệ chiến lược, đánh dấu bước chuyển trọng tâm từ hoàn thiện thể chế sang tổ chức chương trình, nhiệm vụ và tạo sản phẩm cụ thể. Sau hơn 1 năm 8 tháng triển khai Nghị quyết 57-NQ/TW, nhận thức, thể chế và tổ chức thực hiện về khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số đã thay đổi rõ rệt. Câu hỏi không còn là có làm hay không, mà là làm thế nào để đo công nghệ chiến lược bằng sản phẩm và khả năng làm chủ.

Chương trình KHCN 2026-2035: Tái cấu trúc để làm chủ công nghệ lõi
Tái cấu trúc chương trình KHCN 2026-2035 là bước đi chiến lược nhằm biến các mục tiêu công nghệ chiến lược Việt Nam thành kết quả hữu hình. Đề án tái cấu trúc hệ thống chương trình theo hướng tinh gọn, đồng bộ, phân định rõ phạm vi, mục tiêu và định hướng kết quả; tạo kết nối từ nghiên cứu cơ bản, nghiên cứu ứng dụng, phát triển công nghệ đến ứng dụng, chuyển giao, thương mại hóa. Các chương trình được tổ chức thành 6 nhóm, trong đó nhóm chương trình quốc gia đặc biệt và công nghệ chiến lược tập trung nguồn lực để làm chủ, thử nghiệm, ứng dụng và thương mại hóa công nghệ lõi, sản phẩm công nghệ chiến lược. Mục tiêu đến năm 2030 là làm chủ công nghệ lõi, hình thành tối thiểu 20 sản phẩm trọng điểm và sản phẩm công nghệ chiến lược, đồng thời quản lý 100% chương trình trên nền tảng số theo khung IOOI. Giai đoạn 2031-2035, mục tiêu nâng lên tối thiểu 50 sản phẩm trọng điểm và công nghệ chiến lược có sức cạnh tranh quốc tế.

Mô hình mới: Nhà nước đặt bài toán, viện trường làm lõi, doanh nghiệp làm sản phẩm
Điểm thay đổi lớn nhất của chương trình công nghệ chiến lược là mô hình hợp tác ba bên: Nhà nước đặt bài toán, viện trường phát triển công nghệ lõi, doanh nghiệp làm chủ sản phẩm và thị trường kiểm chứng. Đây là cách cắt đứt vòng luẩn quẩn “nghiên cứu xong để ngăn tủ”, đồng thời gắn mỗi nhiệm vụ với mục tiêu, sản phẩm đầu ra, công nghệ lõi cần làm chủ, doanh nghiệp tham gia, địa chỉ ứng dụng và phương án thương mại hóa ngay từ đầu. Giai đoạn 2026-2030, chương trình đặt mục tiêu làm chủ tối thiểu 4 công nghệ chiến lược, phát triển và thương mại hóa ít nhất 15 sản phẩm, trong đó tối thiểu 5 sản phẩm có mặt tại thị trường khu vực hoặc quốc tế, với tỷ lệ nội địa hóa khoảng 40%. Đến giai đoạn 2031-2035, mục tiêu nâng lên 6 công nghệ chiến lược và tối thiểu 25 sản phẩm, ít nhất 15 sản phẩm được thương mại hóa ở thị trường quốc tế hoặc khu vực. Với cách đo công nghệ chiến lược bằng sản phẩm và khả năng làm chủ, doanh nghiệp không còn là “người ngoài cuộc” mà trở thành trung tâm của hệ sinh thái.

Tài chính công và hệ sinh thái đổi mới sáng tạo quốc gia
Để mô hình mới không dừng ở khẩu hiệu, Nhà nước chấp nhận đi xa hơn trong chia sẻ rủi ro tài chính. Theo Thông tư 49/2026, ngân sách nhà nước hỗ trợ tối đa 100% kinh phí đối với nhiệm vụ do Nhà nước đặt hàng, nhiệm vụ nghiên cứu, làm chủ công nghệ lõi, công nghệ nền tảng hoặc công nghệ đặc biệt quan trọng cho tự chủ công nghệ, quốc phòng, an ninh, cũng như các nhiệm vụ rủi ro cao về khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo. Với nhiệm vụ phát triển sản phẩm công nghệ chiến lược có khả năng ứng dụng, chuyển giao, thương mại hóa, ngân sách hỗ trợ tối đa 70%, phần còn lại do các bên tham gia đối ứng bằng tiền hoặc tài sản, thiết bị, hạ tầng, quyền sở hữu trí tuệ. Đồng thời, nhóm chương trình đổi mới sáng tạo quốc gia được thiết kế để hỗ trợ doanh nghiệp hấp thụ, làm chủ, cải tiến, đổi mới, chuyển giao và ứng dụng công nghệ, phát triển thị trường khoa học và công nghệ, sở hữu trí tuệ, khởi nghiệp sáng tạo và hệ sinh thái đổi mới sáng tạo. Hệ sinh thái này đã có chuyển biến, khi thị trường khoa học và công nghệ từng bước được hình thành.

Từ thể chế sang sản phẩm: Cơ hội và thách thức cho công nghệ chiến lược Việt Nam
Sau hơn 1 năm 8 tháng triển khai Nghị quyết 57-NQ/TW, giai đoạn hoàn thiện thể chế về khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số về cơ bản đã tạo được hành lang chính sách. Bộ KH&CN xác định trọng tâm đến cuối năm 2026 là chuyển mạnh sang tạo ra sản phẩm, công nghệ và kết quả cụ thể phục vụ phát triển kinh tế – xã hội. Lần đầu tiên, Việt Nam xác lập danh mục 10 nhóm công nghệ chiến lược và 30 nhóm sản phẩm công nghệ chiến lược, đồng thời tổ chức nhiệm vụ theo cách tiếp cận giải bài toán lớn của quốc gia, ngành, địa phương, thay vì manh mún theo từng lĩnh vực. Điều này đồng nghĩa áp lực đo lường kết quả sẽ lớn hơn: công nghệ chiến lược không còn được đánh giá bằng số đề tài hay văn bản chính sách, mà bằng số công nghệ lõi được làm chủ, số sản phẩm công nghệ chiến lược được thương mại hóa và số doanh nghiệp tham gia chuỗi giá trị toàn cầu. "Chương trình quốc gia đặc biệt về công nghệ chiến lược đặt mục tiêu đến năm 2030 làm chủ ít nhất 4 công nghệ chiến lược và phát triển tối thiểu 15 sản phẩm công nghệ chiến lược". Nếu không kiên định với quản lý theo kết quả đầu ra và phối hợp chặt giữa Nhà nước – viện trường – doanh nghiệp, Việt Nam có nguy cơ quay lại vòng xoáy thủ tục.






