Điểm mới của năm học 2026-2027: hỗ trợ đúng “điểm nghẽn”
Năm học 2026-2027 của học sinh dân tộc thiểu số vùng cao là giai đoạn các địa phương chuyển trọng tâm từ hỗ trợ dàn trải sang tháo gỡ những rào cản cụ thể về tiếng Việt, sách vở, dinh dưỡng và hành trình đến trường, nhằm giúp các em bắt kịp chương trình học và thu hẹp khoảng cách với miền xuôi. Trước thềm năm học, nhiều tỉnh vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi đã ban hành hoặc đưa vào áp dụng các chính sách giáo dục mới, thể hiện sự đáp ứng trực tiếp với yêu cầu ưu tiên nguồn lực cho vùng khó của Chỉ thị số 31/CT-TTg ngày 5/8/2026 về nhiệm vụ trọng tâm năm học 2026-2027. Điều đáng chú ý là chính sách không còn dừng ở mức “có hỗ trợ là đủ”, mà đặt ra câu hỏi: hỗ trợ gì, vào lúc nào, cho đúng nhóm học sinh dễ bị bỏ lại phía sau.

Học sinh phải đủ tiếng Việt và đủ sách trước khi nói đến thành tích
Nếu coi giáo dục vùng cao là cuộc chạy bền, thì tiếng Việt và sách giáo khoa là đôi giày tối thiểu để học sinh dân tộc thiểu số có thể bước vào đường đua. Tỉnh Quảng Trị là một ví dụ đi thẳng vào “điểm nghẽn” đầu cấp với Nghị quyết 22/2026/NQ-HĐND về dạy tăng cường tiếng Việt cho trẻ em dân tộc thiểu số trước khi vào lớp 1: giáo viên được hỗ trợ 360.000 đồng mua đồ dùng dạy học, mỗi trẻ 310.000 đồng bộ đồ dùng học tập, tiền dạy 150.000 đồng/tiết, tối đa 80 tiết trong khoảng một tháng hè. Đây không chỉ là trợ cấp, mà là khoản đầu tư vào khả năng tiếp nhận chương trình lớp 1: trẻ quen tiếng Việt, nề nếp lớp học, còn giáo viên có thêm thời gian cho nội dung kiến thức.
Đắk Lắk cũng chọn cách tiếp cận bài bản khi hỗ trợ mỗi trẻ một bộ tài liệu học tiếng Việt trước lớp 1 và kinh phí đồ dùng học tập tối đa 150.000 đồng/trẻ, đồng thời ưu tiên giáo viên am hiểu tiếng nói, văn hóa địa phương và phương pháp dạy tiếng Việt như ngôn ngữ thứ hai. Trên nền ngôn ngữ đó, một chính sách khác mang tính “gỡ gánh đầu năm” là miễn phí sách giáo khoa cho học sinh của thành phố Huế theo Nghị quyết 47/NQ-HĐND, áp dụng từ năm học 2026-2027. Một bộ sách được cấp đúng lúc không chỉ giảm khoản chi đầu năm mà còn hạn chế tình trạng học sinh miền núi phải học bằng sách thiếu hoặc không đồng bộ, vốn là nguyên nhân âm thầm tạo ra bất bình đẳng trong lớp học.
Từ bữa ăn, chỗ ở đến đường đến lớp: giữ học sinh ở lại trường
Khi học phẩm là chi phí đầu năm thì bữa ăn, chỗ ngủ và đường đến lớp quyết định khả năng bám trường từng ngày. Ở nhiều xã biên giới, một suất cơm đủ chất hay chiếc chăn ấm là ranh giới giữa tiếp tục học và bỏ dở giữa chừng. Các tỉnh Tuyên Quang, Sơn La, Lạng Sơn đã chuẩn hóa danh mục trang cấp cho học sinh trường nội trú xã biên giới: đồng phục, học phẩm được cấp hằng năm; chăn, màn, chiếu, đệm, gối và một số vật dụng sinh hoạt cấp một lần mỗi cấp học, kèm yêu cầu nhà trường mua sắm, công khai cấp phát. Cách làm này đáng khen vì coi học sinh vùng cao như người thụ hưởng quyền lợi rõ ràng, thay vì “tùy nơi, tùy năm” như trước.
Lào Cai lại chọn hướng phân loại nhu cầu tinh hơn bằng Quyết định 22/2026/QĐ-UBND, quy định địa bàn, khoảng cách để xác định học sinh không thể đi về trong ngày: 2km với tiểu học, 4km với THCS, 6km với THPT, kết hợp thêm yếu tố địa hình dốc, qua suối hoặc nguy hiểm. Nói cách khác, chính sách giáo dục vùng cao bắt đầu nhìn học sinh không chỉ bằng hộ khẩu, mà bằng quãng đường thực tế các em phải vượt qua. Điều này mở đường cho việc bố trí chỗ ở bán trú, nội trú, phương tiện đưa đón, thay vì mặc định “ai cũng tự lo được”. Loạt chính sách này cho thấy một thông điệp: muốn giữ chân trẻ em vùng núi, phải bảo đảm hành trình đến lớp an toàn và ít rủi ro nhất.
Dinh dưỡng: chìa khóa để “bắt kịp” chứ không chỉ “có mặt”
Không thể nói đến bình đẳng cơ hội nếu học sinh vùng cao đến lớp trong tình trạng đói bụng hoặc thiếu chất kéo dài. Nghị quyết 85/2026/NQ-HĐND của Gia Lai, áp dụng từ năm học 2026-2027, là bước đi đáng chú ý: mỗi trẻ mầm non được hỗ trợ thêm 160.000 đồng/tháng cho tiền ăn trưa, tối đa 9 tháng; một số nhóm học sinh dân tộc thiểu số bán trú được 700.000 đồng/tháng; học sinh dân tộc thiểu số thuộc hộ nghèo học tại trường ở vùng dân tộc thiểu số và miền núi được 240.000 đồng/tháng, tối đa 9 tháng. Đây là con số biết nói, vì nó cho thấy nhà quản lý đã công nhận bữa ăn là điều kiện học tập, không phải “phần thưởng phụ”.
Đà Nẵng thì lựa chọn thêm hướng can thiệp bằng sữa tươi cho trẻ mầm non và học sinh tiểu học vùng dân tộc thiểu số, miền núi: trẻ 24-36 tháng uống 110ml/ngày, trẻ mẫu giáo và tiểu học 180ml/ngày, tối đa 5 ngày/tuần. Cùng với đó, Nghị quyết 99/2026/NQ-HĐND bổ sung chính sách tại 6 xã biên giới có trên 90% đồng bào dân tộc thiểu số: ngoài chế độ chung, học sinh nội trú được hỗ trợ tiền ăn 1 triệu đồng/tháng, học sinh bán trú 400.000 đồng/tháng, thêm hỗ trợ đi lại dịp Tết, hè, đồ dùng cá nhân, sách giáo khoa, bếp ăn và hoạt động nhà trường. Dinh dưỡng ở đây không còn là phong trào “tặng quà”, mà là cam kết ngân sách ổn định để các em đủ sức học, đủ sức lớn.
Chính sách chỉ có ý nghĩa khi đến đúng học sinh, đúng thời điểm
Sự dịch chuyển từ hỗ trợ chung sang tháo gỡ từng rào cản cụ thể trước ngày tựu trường là bước tiến quan trọng của chính sách giáo dục mới cho giáo dục vùng cao. Tuy vậy, rủi ro lớn nhất không nằm trên giấy, mà nằm ở khâu thực thi. Chỉ thị 31/CT-TTg yêu cầu các địa phương bảo đảm đủ giáo viên, cơ sở vật chất, thiết bị, sách giáo khoa và ưu tiên nguồn lực cho vùng dân tộc thiểu số, miền núi, biên giới, địa bàn khó khăn. Để yêu cầu này không trở thành khẩu hiệu, các tỉnh phải làm ba việc: rà soát đúng đối tượng sau sắp xếp địa giới hành chính; mua sắm, cấp phát công khai, đúng thời điểm; và bảo đảm nguồn lực ổn định, giám sát chất lượng bữa ăn, sữa, phương tiện đưa đón, thay vì chỉ đánh giá bằng tỷ lệ giải ngân.
Điều cần đo đếm cuối cùng không phải là số văn bản ban hành, mà là số học sinh ra lớp đúng hạn, tỷ lệ chuyên cần, tình trạng dinh dưỡng, khả năng sử dụng tiếng Việt của trẻ vào lớp 1 và số em có nguy cơ bỏ học được giữ lại. Khi những chỉ số này cải thiện, các khoản hỗ trợ mới thực sự trở thành đầu tư cho cơ hội học tập bình đẳng, thay vì “phong trào” ngắn hạn. Năm học 2026-2027 vì thế là phép thử quan trọng: hoặc chúng ta biến các nghị quyết thành thay đổi thực sự trong đời sống học sinh dân tộc thiểu số, hoặc sẽ lặp lại vòng luẩn quẩn của những thế hệ đến lớp trong cảnh thiếu tiếng Việt, thiếu sách, thiếu ăn. Và đó là lựa chọn mà một hệ thống giáo dục hướng đến công bằng không được phép chấp nhận.






