Quy mô lớn, nhưng mới đi qua nửa chặng đường
Khám sức khỏe toàn dân là chương trình sàng lọc sức khỏe diện rộng nhằm ghi nhận tình trạng bệnh tật, phát hiện sớm nguy cơ và tạo cơ sở theo dõi điều trị cho người dân. Tại phiên làm việc sáng 30/10, Giám đốc Sở Y tế TP.HCM Tăng Chí Thượng cho biết, tính đến 17h ngày 29/10, thành phố đã khám 6.833.898 người, tương đương 53,5% dân số.
Con số này cho thấy chương trình đã đạt quy mô đáng kể, nhưng tỷ lệ bao phủ mới hơn một nửa dân số cũng nhắc rằng khối lượng phía trước còn rất lớn. Hơn 6,1 triệu người đã có hồ sơ sức khỏe điện tử, tương đương 90% số người được khám; đây là phần nền tảng có thể giúp kết quả khám không dừng lại ở một lần đo, một lần tư vấn.
Tốc độ đang tăng: trong đợt cao điểm gần đây, thành phố khám thêm hơn 180.000 người, bình quân trên 60.000 người mỗi ngày—mức cao nhất kể từ khi triển khai chương trình. Tuy vậy, tốc độ ấy cần được duy trì và mở rộng nếu mục tiêu là tiếp cận cả những nhóm chưa dễ đến cơ sở y tế.

355.290 người nguy cơ cao là tín hiệu không thể xem nhẹ
Điểm đáng chú ý nhất của đợt khám không chỉ là số lượt, mà là điều dữ liệu bắt đầu phơi bày: trong gần 2 triệu hồ sơ đủ điều kiện được phân tầng nguy cơ mắc bệnh tim mạch trong 10 năm theo hướng dẫn của Tổ chức Y tế Thế giới, ngành y tế xác định 355.290 người thuộc nhóm nguy cơ cao và rất cao. Đây không phải kết luận rằng tất cả đã mắc bệnh tim mạch, nhưng là cảnh báo cần được chuyển thành tư vấn, đánh giá chuyên môn và theo dõi phù hợp.
Các phát hiện khác càng cho thấy giá trị thực tế của sàng lọc. Tăng huyết áp được ghi nhận ở 51,58% người từ 60 tuổi trở lên và 18,3% nhóm 18–60 tuổi; phần lớn trường hợp ở nhóm tuổi sau trước đó chưa biết mình mắc bệnh. Ở học sinh, 35% có tật khúc xạ và 24,9% bị sâu răng. Khi vấn đề sức khỏe chưa được nhận diện, người bệnh khó chủ động chăm sóc hoặc tiếp cận điều trị đúng lúc.
Vì thế, phát hiện nguy cơ tim mạch chỉ là bước đầu. Giá trị của chương trình phụ thuộc vào việc người có nguy cơ được hướng dẫn cụ thể và có nơi tiếp tục theo dõi, thay vì nhận kết quả rồi tự xoay xở.
Nút thắt tiếp theo là đưa dịch vụ đến đúng người
TP.HCM còn phải khám hơn 5,9 triệu người trong 63 ngày cuối năm, tương đương khoảng 94.000 lượt mỗi ngày để đạt mục tiêu đề ra. Đây là nhịp độ cao hơn mức bình quân của đợt cao điểm vừa qua, nên không thể trông chờ người dân tự tìm đến cơ sở khám. Gần một nửa khối lượng còn lại thuộc nhóm lao động, khoảng 3 triệu người; cộng đồng còn khoảng 2,4 triệu người, bên cạnh hàng trăm nghìn học sinh, sinh viên và học viên.
Cách tổ chức cần bám sát lịch sinh hoạt và nơi làm việc của từng nhóm. Ngành y tế dự kiến phối hợp doanh nghiệp khám tại chỗ, theo ca hoặc ngoài giờ; địa phương rà soát người chưa khám và mở thêm điểm lưu động, kể cả buổi tối, ngày nghỉ. Với trường học, mục tiêu là hoàn tất khám trong tháng 11.
Chương trình hiện có hơn 400 cơ sở khám, chữa bệnh công lập và ngoài công lập cùng hơn 4.600 bác sĩ đã được tập huấn. Nguồn lực này tạo điều kiện tăng tốc, nhưng kết quả cuối cùng vẫn phụ thuộc vào phối hợp của doanh nghiệp, nhà trường, chính quyền và khả năng đưa lời mời khám đến từng người dân TPHCM.
Thành công phải được đo bằng theo dõi sau khám
Lần đầu tiên thành phố có dữ liệu thực tế về sức khỏe người dân trên diện rộng, thay vì chủ yếu dựa vào các cuộc điều tra quy mô quốc gia. Đây là bước tiến quan trọng: dữ liệu địa phương có thể giúp ngành y tế nhận ra nhóm cần ưu tiên và tổ chức dịch vụ sát với nhu cầu hơn. Nhưng một hồ sơ điện tử chỉ có ý nghĩa khi được cập nhật và gắn với hành động chăm sóc.
Với người được xếp nguy cơ cao, điều cần tiếp nối là tư vấn, đánh giá và theo dõi phù hợp; với học sinh, phát hiện tật khúc xạ hay sâu răng cần mở đường tới chăm sóc, tránh ảnh hưởng kéo dài đến học tập và sinh hoạt. Đó mới là điểm phân biệt giữa một chiến dịch đếm lượt khám và một chương trình y tế dự phòng có ích.
Hơn 6,8 triệu lượt khám là kết quả đáng kể, còn 355.290 trường hợp nguy cơ tim mạch cao và rất cao là lời nhắc về phần việc chưa hoàn tất. TP.HCM sẽ chỉ biến quy mô thành lợi ích bền vững nếu duy trì tốc độ tiếp cận, hoàn thành phần còn lại và bảo đảm người được phát hiện nguy cơ không bị bỏ quên sau buổi khám.






