Chiến lược 10 năm ACIAR–Việt Nam: Từ hợp tác nghiên cứu đến chuyển đổi xanh nông nghiệp
Chiến lược hợp tác nghiên cứu nông nghiệp giai đoạn 2026–2035 giữa ACIAR và Bộ Nông nghiệp và Môi trường Việt Nam là khuôn khổ định hướng hợp tác nông nghiệp Việt Nam theo hướng chuyển đổi xanh, sử dụng hiệu quả tài nguyên, tăng cường thích ứng biến đổi khí hậu và nâng cao chất lượng tăng trưởng, dựa trên nghiên cứu khoa học và đổi mới sáng tạo để hỗ trợ phát triển bền vững nông nghiệp và cam kết phát thải ròng bằng 0. Điểm cần nhấn mạnh là đây không chỉ là một văn bản hợp tác, mà là tuyên bố chính trị–kỹ thuật về cách Việt Nam muốn làm nông nghiệp trong thập kỷ tới: hiệu quả hơn, có trách nhiệm hơn và gắn với các chuẩn mực toàn cầu về khí hậu. Việc Chiến lược được trao đổi chính thức giữa Tiến sĩ Nick Austin và Thứ trưởng Đặng Ngọc Điệp tại Canberra ngày 11/8 cho thấy nông nghiệp đã trở thành trụ cột trung tâm trong quan hệ đối tác chiến lược toàn diện giữa hai bên.
Bối cảnh công bố: Nông nghiệp bước ra trung tâm bàn nghị sự đối ngoại
Việc công bố Chiến lược hợp tác nghiên cứu nông nghiệp 2026–2035 không diễn ra trong khoảng thời gian ngẫu nhiên, mà gắn trực tiếp với chuyến thăm chính thức Australia của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm từ ngày 9 đến 12/8. Đây là thông điệp rõ ràng: nông nghiệp, khí hậu và phát triển bền vững nông nghiệp đang bước ra trung tâm bàn nghị sự đối ngoại, chứ không còn bị xem là câu chuyện thuần kỹ thuật. Theo khuôn khổ Đối tác chiến lược toàn diện, hợp tác nông nghiệp Việt Nam dựa trên khoa học và đổi mới sáng tạo được coi là chìa khóa để bảo đảm tăng trưởng xanh, phát thải thấp nhưng vẫn giữ vững an ninh lương thực và năng lực cạnh tranh toàn cầu. Nói cách khác, Chiến lược ACIAR Việt Nam không chỉ phục vụ lợi ích song phương; nó còn là phần mở rộng tự nhiên của các cam kết quốc tế mà Việt Nam đã nhận trong lĩnh vực khí hậu và phát triển bền vững.
Ba trụ cột ưu tiên: Tài nguyên, khí hậu và đổi mới trong nông nghiệp
Chiến lược 10 năm đặt mục tiêu hỗ trợ Việt Nam xây dựng một nền kinh tế nông nghiệp hiệu quả, có trách nhiệm và chất lượng cao, đồng thời thúc đẩy thực hiện cam kết phát thải ròng bằng 0 và các mục tiêu phát triển bền vững. Nội hàm cụ thể xoay quanh ba trụ cột: sử dụng tài nguyên thiên nhiên hiệu quả, bảo vệ môi trường và chuyển đổi số đi cùng với tăng cường khả năng thích ứng biến đổi khí hậu của ngành nông nghiệp. Ở đây, chuyển đổi xanh nông nghiệp không phải khẩu hiệu, mà là yêu cầu thực tiễn: nếu tiếp tục mô hình khai thác tài nguyên theo chiều rộng, nông nghiệp Việt Nam sẽ dễ bị tổn thương trước hạn hán, xâm nhập mặn và cú sốc thị trường. Phát triển bền vững nông nghiệp chỉ có ý nghĩa khi gắn với giảm phát thải, trung hòa carbon và nâng cao sức chống chịu của hệ thống sản xuất trước rủi ro khí hậu – những nội dung TS Nick Austin đã thẳng thắn nêu trong phát biểu của mình.
Hai dự án mới: Thử nghiệm cụ thể cho thích ứng biến đổi khí hậu và sinh kế nông dân
Điểm đáng chú ý là Chiến lược không dừng ở tầm khung, mà được hiện thực hóa bằng hai dự án nghiên cứu cụ thể, tập trung vào cộng đồng ven biển và ven sông – những nhóm chịu tác động mạnh của biến đổi khí hậu. Các dự án này được kỳ vọng sẽ tăng cường năng lực, sinh kế, hòa nhập xã hội và thúc đẩy doanh nghiệp địa phương tại tỉnh Khánh Hòa và lưu vực sông Hồng. Dự án “Fish Tech Plus” hướng tới xây dựng năng lực cho các nước tiểu vùng sông Mekong triển khai giải pháp kỹ thuật thủy sản trong các chương trình phát triển sông, qua đó phát triển sông bền vững và bao trùm thông qua hạ tầng thân thiện với cá, bảo vệ sinh kế dựa vào sông và nâng cao khả năng thích ứng khí hậu. Dự án “ngọc trai mabé” tại Khánh Hòa lại đi thẳng vào bài toán sinh kế: hỗ trợ nghiên cứu, đào tạo và phát triển thị trường để các hộ sản xuất nhỏ tham gia một chuỗi giá trị thủy sản mới nổi, đa dạng hóa thu nhập và giảm phụ thuộc vào các mô hình rủi ro cao.
Tiếp nối hơn ba thập kỷ hợp tác: Cơ hội nhưng cũng là trách nhiệm
Kể từ năm 1993, hợp tác ACIAR Việt Nam đã giúp tăng cường năng lực nghiên cứu, phát triển công nghệ, xây dựng hệ thống canh tác và chuỗi giá trị, qua đó cải thiện sinh kế nông dân và hỗ trợ thích ứng biến đổi khí hậu. Nền tảng hơn ba thập kỷ này là lý do để Thứ trưởng Đặng Ngọc Điệp khẳng định hợp tác trong 10 năm tới phải tiếp tục dựa trên kết quả thực tiễn, hiệu quả và bền vững. Tuy vậy, chính chiều sâu hợp tác cũng đặt ra trách nhiệm lớn hơn: nếu các kết quả nghiên cứu không được tích hợp vào chính sách, không lan xuống cấp huyện, xã và hợp tác xã, chuyển đổi xanh nông nghiệp sẽ dừng lại ở mô hình thí điểm. Chiến lược 2026–2035 chỉ thực sự phát huy giá trị khi Việt Nam coi đây là công cụ để cải tổ cách sử dụng tài nguyên, cách thiết kế sinh kế và cách gắn nông nghiệp với biến đổi khí hậu. Khi đó, hợp tác nông nghiệp Việt Nam với đối tác quốc tế sẽ không chỉ là nhận hỗ trợ, mà là đồng kiến tạo một nền nông nghiệp có khả năng chống chịu, công bằng và bền vững hơn.






