Giáo dục vùng cao: từ quyền được học đến quyền được học tốt
Giáo dục vùng cao là tổng thể các chính sách, mô hình trường lớp và điều kiện hỗ trợ dành cho học sinh ở miền núi, biên giới và vùng đồng bào dân tộc thiểu số, nhằm bảo đảm các em không chỉ được đến trường mà còn được học trong môi trường an toàn, có chất lượng, với cơ hội học tập công bằng so với trẻ em ở khu vực thuận lợi. Trong bức tranh ấy, trường nội trú biên giới, hỗ trợ bữa ăn bán trú và đầu tư cơ sở vật chất không phải là những ưu đãi “cho có”, mà là điều kiện tối thiểu để học sinh hoàn cảnh khó khăn bám trường, bám lớp. Các quyết định cấp tỉnh ở Lạng Sơn và Lào Cai cho thấy giáo dục vùng cao đang được nhìn nhận như một nhiệm vụ phát triển, chứ không đơn thuần là công tác từ thiện.

Lạng Sơn: trường nội trú biên giới và bài toán chất lượng
Khi Chủ tịch UBND tỉnh Lạng Sơn ban hành Chỉ thị về nhiệm vụ trọng tâm của năm học 2026 - 2027, thông điệp rõ nhất là phải giải quyết những vấn đề căn cơ của giáo dục vùng cao, vùng khó khăn và biên giới. Chủ đề năm học “Đổi mới tư duy - Chuyển biến mạnh mẽ - Kết quả thực chất” cho thấy tỉnh không chấp nhận những khẩu hiệu hình thức: chất lượng, hiệu quả và sự tiến bộ của người học được lấy làm thước đo. Trọng tâm chính sách là duy trì sĩ số, hạn chế bỏ học, đảm bảo học sinh được tiếp cận giáo dục an toàn, công bằng, từ việc ổn định đội ngũ giáo viên, trường lớp đến thiết bị dạy học và sách giáo khoa. Đặc biệt, hệ thống trường nội trú biên giới với 4 trường phổ thông nội trú tiểu học và THCS tại Kiên Mộc, Khuất Xá, Mẫu Sơn, Quốc Khánh đã đi vào hoạt động từ năm học 2026 - 2027, thêm 7 trường khác đang tiếp tục được đầu tư, phấn đấu hoàn thành trong năm 2027. Đây là lựa chọn chính sách mang tính quyết định: nếu không có trường nội trú biên giới, cơ hội học tập công bằng cho học sinh vùng cao Lạng Sơn sẽ mãi là khẩu hiệu.
Không chỉ dừng ở chỗ “có trường”, Lạng Sơn đặt ra yêu cầu dạy học 2 buổi/ngày ở những nơi đủ điều kiện, tăng cường nội dung khoa học, công nghệ, STEM/STEAM, Robotics và khả năng vận dụng kiến thức vào thực tiễn. Tỉnh còn có tham vọng đưa tiếng Anh trở thành ngôn ngữ thứ hai trong trường học theo điều kiện thực tế, đồng thời tổ chức dạy tiếng Trung tại các cơ sở giáo dục phổ thông ở xã biên giới. Trong bối cảnh đó, hình ảnh Thứ trưởng Thường trực Bộ Dân tộc và Tôn giáo Nguyễn Hoài Anh đến trao quà cho học sinh Trường Phổ thông Dân tộc nội trú liên cấp Tiểu học và THCS Mẫu Sơn cho thấy giáo dục vùng cao không còn là câu chuyện của riêng địa phương, mà là trách nhiệm chung của hệ thống chính trị. Tuy nhiên, để “kết quả thực chất”, Lạng Sơn sẽ phải tiếp tục giải bài toán thiếu giáo viên ở vùng khó, áp lực hành chính đè nặng lên nhà trường và nguy cơ lạm thu làm xói mòn niềm tin của phụ huynh. Việc tỉnh yêu cầu quản lý chặt hoạt động dạy thêm, học thêm và các khoản thu, công khai minh bạch, xử lý nghiêm lạm thu là bước đi cần thiết nếu muốn bảo vệ cơ hội học tập công bằng.

Lào Cai: từ bữa ăn bán trú đến mạng lưới trường nội trú mới
Ở các xã miền núi, biên giới của Lào Cai, quãng đường đến trường của học sinh không chỉ đo bằng cây số. Với những em nhà xa, bữa ăn và chỗ ở bán trú là điều kiện rất cụ thể để có thể bám trường, bám lớp. Câu chuyện tại xã Mỏ Vàng cho thấy rõ điều đó: trước khi sắp xếp lại mạng lưới trường học vào cuối tháng 8, địa bàn có 6 cơ sở giáo dục với 2.409 trẻ em, học sinh; trong đó có 1.026 học sinh bán trú và 1.151 em thuộc diện hưởng các chế độ hỗ trợ. Năm học 2025 - 2026, tổng kinh phí thực hiện chính sách theo Nghị định 66/2025/NĐ-CP trên địa bàn đạt hơn 9 tỷ đồng, riêng hỗ trợ tiền ăn hơn 8,2 tỷ đồng. Qua giám sát của Ban Dân tộc HĐND tỉnh, các chính sách hỗ trợ đã giúp nâng tỷ lệ chuyên cần, giảm bỏ học, cải thiện bữa ăn và điều kiện sinh hoạt cho học sinh bán trú. Nói cách khác, hỗ trợ bữa ăn bán trú không phải là khoản chi phụ trợ, mà trực tiếp quyết định việc một đứa trẻ vùng cao có được đi học đều hay không.
Song song với hỗ trợ trực tiếp cho người học, Lào Cai đang tái cấu trúc mạng lưới trường lớp và tăng cường cơ sở vật chất giáo dục vùng biên. Từ 6 trường, Mỏ Vàng tổ chức lại thành 3 cơ sở, trong đó các trường tiểu học và THCS tại Mỏ Vàng, An Lương được sáp nhập thành hai trường phổ thông dân tộc bán trú liên cấp. Việc sắp xếp đặt ra yêu cầu rõ ràng: duy trì nề nếp dạy học, không để quyền lợi và chất lượng học tập của học sinh bị ảnh hưởng. Ở cấp toàn tỉnh, bước vào năm học 2026 - 2027, 4 trường phổ thông nội trú liên cấp tại Mường Khương, Pha Long, Y Tý và A Mú Sung được đưa vào sử dụng, riêng Trường Phổ thông nội trú Tiểu học và THCS Mường Khương có quy mô 28 lớp với 980 học sinh. Từ bữa ăn bán trú đến những ngôi trường nội trú mới, địa phương đang tạo thêm điểm tựa cho học sinh hoàn cảnh khó khăn, đặc biệt là trẻ em dân tộc thiểu số, nhưng bản thân hệ thống vẫn đối mặt với thiếu thầy, thiếu thiết bị và những chính sách chưa theo kịp giá cả vùng cao.

Thiếu giáo viên, thiếu thiết bị và áp lực phải đổi mới chính sách
Nếu cơ sở vật chất là “phần xác” của giáo dục vùng cao, thì đội ngũ giáo viên là “phần hồn” quyết định chất lượng. Khảo sát tại xã Mậu A cho thấy dù 13 cơ sở giáo dục mầm non và phổ thông đều đạt chuẩn quốc gia, 247 phòng học đã được kiên cố hóa, không còn phòng tạm, địa phương vẫn thiếu nhân lực và trang thiết bị đáp ứng yêu cầu mới. Riêng môn tiếng Anh, xã có 21 giáo viên nhưng vẫn thiếu 4 người ở 4 trường, đồng thời thiếu phòng học ngoại ngữ, máy tính, thiết bị nghe nhìn, trình chiếu. Theo báo cáo của Giám đốc Sở Giáo dục và Đào tạo Lào Cai, toàn ngành hiện có 30.677 cán bộ quản lý, giáo viên, nhân viên, đạt 93,8% biên chế được giao và 85,8% so với định mức; toàn ngành còn thiếu 2.034 người, trong đó 1.386 giáo viên và 537 nhân viên. Tình trạng thiếu giáo viên tập trung ở các môn Ngoại ngữ, Tin học và tại địa bàn vùng cao, khó khăn, cho thấy nếu không có đủ người đứng lớp, mọi nỗ lực mở trường nội trú biên giới hay cải thiện bữa ăn bán trú sẽ chỉ giải quyết được nửa vấn đề.
Vì vậy, trong các cuộc tiếp xúc cử tri chuyên đề với ngành giáo dục, nhiều ý kiến tập trung vào tổ chức, quản trị nhà trường sau sắp xếp; biên chế, tuyển dụng và quyền lợi nhà giáo; chính sách bán trú, hỗ trợ học sinh; cơ sở vật chất và thiết bị dạy học. Phó Chủ tịch UBND tỉnh Lào Cai Giàng Quốc Hưng khẳng định những vấn đề thuộc thẩm quyền tỉnh sẽ được chỉ đạo xử lý, còn các nội dung liên quan đến cơ chế, chính sách, nguồn lực sẽ được rà soát cụ thể về đối tượng, nhu cầu, kinh phí và lộ trình. Trưởng Đoàn ĐBQH tỉnh Lào Cai Giàng Thị Dung cũng đề nghị UBND tỉnh khẩn trương chỉ đạo giải quyết các vấn đề trong thẩm quyền, đồng thời phản ánh kiến nghị lên Quốc hội, Chính phủ, các bộ, ngành liên quan để xem xét, giải quyết. Quan điểm của tỉnh là không để việc sắp xếp tổ chức bộ máy, trường lớp trở thành rào cản đối với việc học tập của học sinh, điều kiện công tác của giáo viên và chất lượng giáo dục. Đây là cách tiếp cận đáng chú ý: học sinh vùng cao không cần thêm những cuộc cải cách trên giấy, mà cần các chính sách linh hoạt, theo sát thực tiễn để cơ hội học tập công bằng trở thành hiện thực hàng ngày.

Khi AI bước vào trường học vùng cao: hỗ trợ, không thay thế
Trong bối cảnh chuyển đổi số toàn ngành, Lạng Sơn coi trí tuệ nhân tạo là một nhiệm vụ riêng của năm học 2026 - 2027. Tỉnh dự kiến triển khai học bạ số theo lộ trình, phát triển kho học liệu số dùng chung, chuẩn hóa dữ liệu giáo dục và ứng dụng AI có kiểm soát trong quản trị, dạy học, hỗ trợ người học. Quan điểm đáng chú ý là việc sử dụng AI phải chính xác, minh bạch, an toàn thông tin và không thay thế vai trò của nhà giáo. Nếu được thực hiện nghiêm túc, cách tiếp cận này có thể giúp thu hẹp khoảng cách giáo dục giữa vùng cao và vùng thuận lợi: học sinh dân tộc thiểu số có thể tiếp cận tài liệu, bài giảng chất lượng cao; giáo viên vùng xa có thêm công cụ hỗ trợ soạn giảng, đánh giá, mà không bị biến thành “phụ tá” cho máy móc.
Tuy nhiên, AI không phải cây đũa thần. Ở những nơi vẫn còn thiếu phòng học, thiếu máy tính, thiết bị nghe nhìn như Mậu A, nói đến ứng dụng AI mà bỏ qua hạ tầng và đào tạo giáo viên sẽ chỉ tạo thêm một tầng bất bình đẳng mới. Điều đáng mừng là Lạng Sơn không xem chuyển đổi số như một phong trào, mà gắn trực tiếp với các biện pháp hỗ trợ truyền thống: duy trì sĩ số, giảm bỏ học, củng cố trường nội trú biên giới, kiểm soát dạy thêm, học thêm để bảo vệ cơ hội học tập công bằng cho học sinh hoàn cảnh khó khăn. Nhìn rộng ra, câu chuyện kết hợp AI với bữa ăn bán trú, trường nội trú và chính sách bán trú ở Lào Cai cho thấy một hướng đi hợp lý: công nghệ chỉ có ý nghĩa nếu phục vụ mục tiêu lớn hơn là để mỗi đứa trẻ vùng cao được quyền mơ về tương lai từ những lớp học trên chính mảnh đất của mình.






