Sức chống chịu là năng lực giữ điểm đến đứng vững
Sức chống chịu du lịch là khả năng của một điểm đến hấp thụ và ứng phó với biến động mà vẫn duy trì sức hấp dẫn, hoạt động dịch vụ và lợi ích cho cộng đồng. Năng lực ấy giờ không còn là phương án dự phòng: nó đang trở thành thước đo cạnh tranh trong một ngành phụ thuộc vào đường bay, giá năng lượng và tâm lý du khách. Báo cáo Chỉ số năng lực phát triển du lịch và lữ hành năm 2026 của Diễn đàn Kinh tế Thế giới cảnh báo rủi ro toàn cầu ngày càng phức tạp, từ bất ổn địa chính trị, lạm phát đến thời tiết cực đoan và thiếu lao động. Việt Nam có nền tảng ổn định và sức hút đang tăng, nhưng độ mở của ngành khiến cú sốc từ bên ngoài nhanh chóng truyền vào giá tour, vận tải, lưu trú và sức mua. Vì vậy, tăng trưởng khách chưa đủ chứng minh điểm đến đã sẵn sàng.
Quy mô hiện tại cho thấy cả cơ hội lẫn trách nhiệm. Trong 9 tháng năm 2026, Việt Nam đón khoảng 17,7 triệu lượt khách quốc tế, tăng 14,5% so với cùng kỳ năm trước và đạt 70,7% kế hoạch cả năm; tổng thu du lịch ước đạt 874 nghìn tỷ đồng, tăng 10%. Nhưng lượng khách đông không tự động tạo ra khả năng chống chịu. Khi nhiên liệu tăng, hãng bay phải điều chỉnh khai thác, doanh nghiệp tính lại tour, còn du khách cân nhắc ngân sách, thời gian lưu trú và cách di chuyển. Sức bền của điểm đến vì thế cần được đo bằng khả năng duy trì trải nghiệm và giá trị, không chỉ bằng tốc độ đón khách.
Cú sốc bên ngoài có thể đổi hành vi du khách
Du lịch Việt Nam không thể tách mình khỏi biến động quốc tế. Giá năng lượng, tỷ giá, gián đoạn đường bay hay suy giảm kinh tế ở thị trường nguồn đều có thể làm tăng chi phí và khiến khách đổi kế hoạch. Áp lực giá cả đã hiện rõ: CPI tháng 9.2026 tăng 0,62% so với tháng trước, chủ yếu do giá xăng dầu trong nước điều chỉnh theo thị trường thế giới; bình quân 9 tháng, CPI tăng 4,52% so với cùng kỳ. Điều đó không chỉ nằm trên bảng tính của doanh nghiệp. Khách có thể vẫn đi nghỉ, nhưng rút ngắn chuyến đi, chọn nơi lưu trú khác hoặc cắt bớt hoạt động. Một điểm đến có sức chống chịu tốt phải điều chỉnh nhanh khi giá nhiên liệu tăng, thị trường đổi hướng hay tuyến bay bị gián đoạn, đồng thời vẫn bảo vệ tài nguyên và sinh kế người lao động.
Việt Nam có những lớp đệm đáng kể, nhưng không nên nhầm lợi thế với sự miễn nhiễm. Trong Chỉ số năng lực phát triển du lịch và lữ hành năm 2026, Việt Nam đạt 4,15 điểm, tăng 6,1%, xếp thứ 52 trong 110 nền kinh tế và tăng 7 bậc so với năm 2024. An toàn, giá cả hợp lý, tài nguyên văn hóa và thiên nhiên là lợi thế trong lúc du khách thận trọng hơn. Tuy nhiên, một địa phương phụ thuộc vào một mùa du lịch, một tài nguyên hay một nhóm khách sẽ dễ tổn thương khi thời tiết đổi khác hoặc kết nối bị gián đoạn. Phát triển điểm đến cần đi cùng đa dạng hóa thị trường, mở rộng kết nối hàng không, kéo dài thời gian lưu trú và tạo sản phẩm có sức cạnh tranh quanh năm.
Xúc tiến phải chuyển từ độ phủ sang hiệu quả
Xúc tiến du lịch có thể nâng tầm thương hiệu và mở thị trường, nhưng quảng bá rộng mà thiếu đường dẫn tới đặt dịch vụ thì khó tạo sức bền. Ngành đã thử nhiều cách như đại sứ du lịch, quảng bá qua điện ảnh và hệ sinh thái số; bước tiếp theo phải là kết nối thông điệp với thị trường mục tiêu, sản phẩm cụ thể và đối tác phân phối có khả năng chuyển sự quan tâm thành booking, doanh thu. Đây là thay đổi từ đo mức độ nhận diện sang đo hiệu quả thực tế. Với giai đoạn 2026-2030, Việt Nam cần xác định thị trường ưu tiên theo từng thời hạn, phối hợp lịch kết nối doanh nghiệp, tài liệu đa ngôn ngữ, giá tham khảo và phương án khai thác đường bay. Chiến lược ấy cần được triển khai dài hạn, liên tục và có sự tham gia chung của Nhà nước, địa phương, doanh nghiệp.
Cách làm theo chiều sâu cũng đòi hỏi phối hợp thật sự giữa trung ương, địa phương và doanh nghiệp, thay vì những chiến dịch rời rạc. Mỗi địa phương cần xác định nhóm khách phù hợp với năng lực cung ứng, rồi xây dựng sản phẩm đủ khác biệt để giữ chân họ và khuyến khích chi tiêu có ích cho cộng đồng. Tăng trưởng bền vững không phải cuộc đua đón thêm lượt khách bằng mọi giá; đó là nâng chất lượng trải nghiệm, kéo dài mùa hoạt động và bảo đảm người dân địa phương hưởng lợi thực chất. Nếu quảng bá hứa nhiều hơn điều điểm đến có thể cung cấp, thương hiệu sẽ yếu đi đúng lúc cạnh tranh gay gắt.
Tăng trưởng cần được tính bằng giá trị và khả năng thích ứng
Bài toán của du lịch Việt Nam không phải chọn giữa tăng trưởng và chống chịu, mà là thiết kế tăng trưởng để chịu được biến động. Điều đó đòi hỏi hạ tầng, quản trị điểm đến và chất lượng dịch vụ theo kịp lượng khách; đồng thời cần bảo vệ môi trường, mở rộng kinh tế đêm, thúc đẩy du lịch quanh năm và giảm phụ thuộc vào một vài thị trường hoặc mùa cao điểm. Khi khách quốc tế thắt chặt ngân sách, sản phẩm phải giữ được sức hấp dẫn mà không dựa vào giảm giá thiếu bền vững. Khi thời tiết cực đoan tăng, quy hoạch và phương án ứng phó phải bảo vệ cả tài nguyên lẫn sinh kế. Đây là phần việc cụ thể của sức chống chịu, không phải khẩu hiệu.
Kết luận là Việt Nam có nền tảng tốt để cạnh tranh, nhưng lợi thế về an toàn, tài nguyên và giá cả sẽ không tự biến thành năng lực đứng vững. Điểm đến cần chuyển từ tư duy chạy theo lượng khách sang tạo giá trị cao hơn cho mỗi chuyến đi, doanh nghiệp và cộng đồng; xúc tiến phải có mục tiêu đo lường được, còn sản phẩm và kết nối phải linh hoạt trước cú sốc. Khi mỗi địa phương có nhiều lý do để được lựa chọn và nhiều cách thích ứng khi hoàn cảnh đổi thay, du lịch Việt Nam mới có thể tăng trưởng mà không trở nên mong manh.






