Giá trị cốt lõi của chính sách hỗ trợ giáo dục cho nhóm yếu thế
Chính sách hỗ trợ giáo dục cho học sinh dân tộc thiểu số và học sinh khuyết tật là hệ thống các khoản trợ cấp học phí, sinh hoạt, bữa ăn miễn phí trường học và học bổng học sinh, được thiết kế nhằm giảm rào cản tài chính, bảo đảm quyền được đi học và mở rộng cơ hội phát triển lâu dài cho những nhóm dễ bị thiệt thòi nhất trong hệ thống giáo dục. Sau 9 năm triển khai, Nghị định 57/2017/NĐ-CP – văn bản đầu tiên quy định có hệ thống về ưu tiên tuyển sinh và hỗ trợ tài chính cho trẻ mầm non, học sinh, sinh viên thuộc 16 dân tộc rất ít người – đã tạo nền tảng quan trọng cho cộng đồng này. Tuy vậy, cách chúng ta nhìn nhận các chính sách hỗ trợ giáo dục không nên dừng ở việc “cho” mà phải coi đây là khoản đầu tư có chủ đích vào nguồn nhân lực chất lượng cao, bắt đầu từ những năm tháng mầm non và kéo dài lên bậc đại học. Nếu bỏ trống giai đoạn đầu đời, hay để khoảng cách về dinh dưỡng và học phí tiếp tục nới rộng, mọi khẩu hiệu về bình đẳng cơ hội sẽ khó đi đến thực chất.

“Đi học có lương”: giảm gánh học phí, mở lối đi lên cho học sinh dân tộc thiểu số
Điểm sáng nhất của Nghị định 57/2017/NĐ-CP là cơ chế “đi học có lương”: hỗ trợ hằng tháng tính theo mức lương cơ sở cho trẻ mầm non, học sinh phổ thông và sinh viên thuộc các dân tộc rất ít người. Đây không phải là phụ cấp tượng trưng, mà là khoản tài chính giúp gia đình có thể giữ con ở lại trường thay vì buộc phải cho nghỉ học để phụ giúp mưu sinh. Theo báo cáo của Bộ Giáo dục và Đào tạo, từ tháng 7/2017 đến 5/2026 đã có 160.691 trẻ em và học sinh dân tộc thiểu số được thụ hưởng các chính sách hỗ trợ giáo dục, với tổng kinh phí trên 1.320,3 tỷ đồng. Một câu chuyện tiêu biểu là hành trình của Lô Thị Bảo Vy, người O Đu đầu tiên trở thành đại biểu Quốc hội: khoản hỗ trợ tương đương 100% lương cơ sở mỗi tháng trong 12 tháng/năm là nền tảng để cô chuyên tâm học tập, tốt nghiệp trung học, rồi hoàn thành đại học sư phạm tiểu học. Khi học sinh dân tộc thiểu số “đi học có lương”, chúng ta không chỉ nuôi dưỡng một tấm bằng, mà đang nuôi dưỡng những tiếng nói đại diện cho cả cộng đồng trong tương lai.

Bữa ăn miễn phí và nội trú: điểm tựa hàng ngày cho học sinh khuyết tật
Nếu với học sinh dân tộc thiểu số, câu chuyện là học phí, thì với học sinh khuyết tật, bữa ăn miễn phí trường học lại là chiếc “phao cứu sinh” giúp gia đình trụ vững. Tại Trung tâm Hỗ trợ phát triển giáo dục hòa nhập Gia Nghĩa, 53 học sinh khuyết tật đang được chăm sóc, giáo dục, can thiệp; trong đó 32 em nội trú, 21 em bán trú. Theo Nghị quyết 386/2024/NQ-HĐND, học sinh nội trú được hỗ trợ 1,872 triệu đồng/tháng tiền ăn, bán trú 1,404 triệu đồng/tháng, cùng 150.000 đồng/tháng chi phí học tập. Chính sách này đã hỗ trợ tiền ăn cho 331 học sinh khuyết tật tại các trung tâm, với tổng kinh phí hơn 5,249 tỷ đồng. Không khó để hình dung tác động: những gia đình nghèo ở vùng sâu, vùng xa có con khuyết tật không còn bị đè nặng bởi tiền ăn hằng tháng; trẻ được bảo đảm điều kiện ăn, ở, chăm sóc hằng ngày nên yên tâm học tập, can thiệp và rèn luyện. Kết quả ghi nhận là 100% học sinh có kế hoạch giáo dục cá nhân, nhiều em tiến bộ rõ rệt về nhận thức, giao tiếp, vận động và kỹ năng tự phục vụ. Khi bữa ăn ở trường trở nên đầy đủ và ổn định, khái niệm “không để người khuyết tật bị bỏ lại phía sau” mới được hiện thực hóa bằng những thay đổi rất cụ thể.

Không thể bỏ trống giai đoạn mầm non: nền móng dài hạn cho học sinh dân tộc thiểu số
Một nghịch lý đang hiện ra: chúng ta đã dồn lực hỗ trợ học sinh dân tộc thiểu số ở bậc mầm non công lập, tiểu học, trung học và đại học, nhưng lại bỏ trống nhóm trẻ dưới 3 tuổi – “thời kỳ vàng” để hình thành nền tảng phát triển về thể chất, nhận thức, ngôn ngữ, kỹ năng xã hội. Trong bối cảnh nhiều cộng đồng dân tộc thiểu số có tỷ lệ nghèo đa chiều cao, việc gửi trẻ đến nhà trẻ trước khi có chính sách hỗ trợ trở thành bài toán khó đối với gia đình. Nghị quyết 71-NQ/TW của Bộ Chính trị đã yêu cầu chăm lo giáo dục trẻ từ những năm đầu đời và thực hiện phổ cập giáo dục mầm non cho trẻ 3 – 5 tuổi. Đi theo tinh thần này, Bộ Giáo dục và Đào tạo đang xây dựng dự thảo nghị định mới, dự kiến trình Chính phủ vào tháng 10/2026, đề xuất bổ sung trẻ mầm non dân tộc thiểu số (kể cả dưới 3 tuổi) vào diện được hưởng chính sách. Đây không chỉ là điều chỉnh kỹ thuật, mà là chuyển dịch tư duy: thay vì “chờ tới mẫu giáo mới hỗ trợ”, nhà nước lựa chọn đầu tư sớm để giảm nguy cơ tụt hậu sau này. Nếu bỏ lỡ giai đoạn này, mọi cố gắng hỗ trợ ở bậc cao hơn sẽ luôn mang tính “chữa cháy”.

Từ trợ cấp đến học bổng toàn diện: khép lại khoảng cách công bằng giáo dục
Các mức hỗ trợ theo Nghị định 57 cho thấy một nỗ lực rõ ràng nhằm bù đắp bất bình đẳng: trẻ mầm non dân tộc thiểu số được hỗ trợ 30% lương cơ sở/tháng; học sinh tiểu học, THCS, THPT 40%; học sinh trường dân tộc nội trú và các mô hình nội trú công lập từ 60% đến 100%; sinh viên dự bị, đại học, giáo dục nghề nghiệp hưởng 100% lương cơ sở/tháng. Cộng với chính sách bữa ăn miễn phí cho học sinh khuyết tật, hệ thống này đang xử lý trực diện hai “lỗ hổng” lớn của công bằng giáo dục: chi phí học và chi phí ăn ở. Tuy nhiên, câu chuyện không dừng ở trợ cấp. Tại cuộc gặp 150 học sinh và thanh niên dân tộc thiểu số tiêu biểu năm 2025, Tổng Bí thư – Chủ tịch nước Tô Lâm đã yêu cầu nghiên cứu cơ chế học bổng đi đào tạo ở nước ngoài cho học sinh xuất sắc, đồng thời chương trình mục tiêu giai đoạn 2026 – 2030 đặt mục tiêu hỗ trợ đào tạo nước ngoài cho 20% học sinh dân tộc thiểu số có khó khăn đặc thù. Khi trợ cấp nuôi dưỡng được nối dài bằng học bổng học sinh mang tính đầu tư, chúng ta đã dịch chuyển từ tư duy “không để ai đói học” sang tư duy “phải có người vươn lên dẫn đường”. Kết luận hợp lý ở đây là: nếu tiếp tục bảo đảm nguồn lực cho chính sách hỗ trợ giáo dục và học bổng toàn diện, Việt Nam có thể biến những bản làng rất ít người, những phòng học hòa nhập của học sinh khuyết tật, thành nơi xuất phát của những thế hệ trí thức mới.






