OCOP du lịch: Khi sản phẩm địa phương trở thành điểm đến
OCOP du lịch là mô hình tích hợp sản phẩm địa phương, di sản văn hóa và các hoạt động du lịch trải nghiệm trong một chuỗi giá trị thống nhất, nơi người dân không chỉ bán nông sản hay hàng thủ công mà còn mở cửa vườn cây, xưởng sản xuất, làng nghề để đón khách, kể câu chuyện nguồn gốc, kết hợp tham quan, thưởng thức và tiêu dùng ngay tại chỗ, qua đó biến chính không gian sống và lao động của cộng đồng thành điểm đến kinh tế du lịch giàu bản sắc. Trong cách tiếp cận này, đặc sản không dừng ở vai trò hàng hóa mà được “nâng cấp” thành trải nghiệm gắn với ký ức, cảm xúc và sự thấu hiểu vùng đất, để mỗi món quà mang về là một phần câu chuyện của người làm ra nó chứ không chỉ là một sản phẩm mua cho có.
Điểm chung trong các địa phương đang đi theo hướng OCOP du lịch là chuyển trọng tâm từ bán sản phẩm sang bán trải nghiệm. Phú Thọ chủ động đưa sản phẩm OCOP gắn với phát triển du lịch, từng bước biến đặc sản, làng nghề và vùng sản xuất thành điểm đến trải nghiệm. Sơn La với Chè Tà Xùa Bắc Yên lại chọn con đường xây dựng thương hiệu, bảo hộ nhãn hiệu và truy xuất nguồn gốc bằng QR để nâng giá trị búp chè cũng như niềm tin người mua. Trong khi đó, Quảng Ninh xây dựng kinh tế di sản dựa trên vịnh Hạ Long - Yên Tử, song song phát triển sản phẩm du lịch mới và du lịch đêm để kéo dài thời gian lưu trú, tăng chi tiêu của du khách. Điểm yếu hiện nay là nhiều nơi vẫn tập trung vào lễ hội hoặc thắng cảnh mà chưa thực sự “kể chuyện” bằng chính sản phẩm địa phương; nếu không thay đổi, lợi thế bản sắc sẽ bị thương mại hóa nghèo nàn.
Phú Thọ: Biến nông thôn thành không gian du lịch trải nghiệm
Sau hợp nhất không gian hành chính, Phú Thọ sở hữu vùng nông nghiệp đa dạng, tạo nền tảng lý tưởng để xây dựng mô hình nông nghiệp đa giá trị gắn với du lịch nông nghiệp, nông thôn. Thay vì để sản phẩm OCOP nằm trên kệ siêu thị, tỉnh đẩy mạnh đưa du khách vào vùng nguyên liệu, cơ sở chế biến, làng nghề để tìm hiểu quy trình sản xuất, thưởng thức và mua sản phẩm tại chỗ. Chè Long Cốc, bưởi Đoan Hùng, mì gạo Hùng Lô, mật ong, cá lòng hồ… không còn là tên gọi khô khan mà trở thành các điểm dừng trong hành trình du lịch trải nghiệm, nơi mỗi gói chè hay chai mật ong gắn liền với câu chuyện đồng ruộng, rừng núi và người làm nghề. Cách làm này tạo giá trị kép: người sản xuất có thêm đầu ra, còn du khách có trải nghiệm sâu hơn về văn hóa, đời sống địa phương.
Phú Thọ hiện có hơn 600 sản phẩm OCOP còn thời hạn, trong đó có 88 sản phẩm 4 sao và 9 sản phẩm 5 sao. Con số này cho thấy nguồn tài nguyên sản phẩm địa phương đủ lớn để xây dựng các tour OCOP du lịch theo chủ đề: từ nông nghiệp công nghệ cao với đông trùng hạ thảo, nấm đùi gà, chuối sấy xuất khẩu, đến mật ong Curcumin hay mật ong hoa rừng. Doanh nghiệp như HONECO không chỉ đạt 4 sản phẩm OCOP 5 sao cấp quốc gia mà còn kiểm soát nguyên liệu 100%, áp dụng tiêu chuẩn chất lượng quốc tế và xuất khẩu sản lượng chiếm khoảng 20-30% công suất nhà máy. Một câu nói nên được ghi nhớ: "Việc mở cửa các cơ sở sản xuất để đón khách không chỉ giúp quảng bá sản phẩm mà còn tạo cơ hội để người tiêu dùng trực tiếp kiểm chứng chất lượng". Vấn đề là tỉnh cần sớm kết nối các điểm sản xuất thành tour mạch lạc, đào tạo cộng đồng về kỹ năng đón khách, kể chuyện sản phẩm, nếu không lợi thế số lượng OCOP sẽ bị dàn trải và khó tạo dấu ấn.
Chè Tà Xùa Bắc Yên: Xây thương hiệu, kể câu chuyện di sản
Tà Xùa là vùng chè Shan tuyết nổi tiếng của Sơn La, với khoảng 300 ha chè đã cho thu hoạch, trong đó có khoảng 200 cây chè cổ thụ tuổi đời 200-300 năm được công nhận là quần thể cây di sản Việt Nam. Điều kiện khí hậu mát mẻ, độ cao trên 1.800 m và độ ẩm lớn tạo nên hương vị riêng, nhưng lợi thế tự nhiên chỉ trở thành giá trị kinh tế du lịch khi sản phẩm được nhận diện rõ ràng, kiểm soát chất lượng và bảo vệ tên gọi trên thị trường. Nhận ra điều đó, từ năm 2022, Sở Khoa học và Công nghệ tỉnh Sơn La tham mưu triển khai nhiệm vụ đăng ký bảo hộ, xây dựng và vận hành hệ thống quản lý nhãn hiệu chứng nhận “Chè Tà Xùa Bắc Yên” nhằm phát triển chuỗi giá trị chè gắn sản xuất, quản lý chất lượng và tiêu thụ sản phẩm. Đây là bước chuyển tư duy từ bán nguyên liệu sang xây dựng tài sản thương hiệu, đồng thời đặt nền tảng để gắn vùng chè với du lịch trải nghiệm, tham quan cây di sản, thưởng trà trên mây.
Một kết quả quan trọng là hệ thống nhận diện Chè Tà Xùa Bắc Yên kèm tem truy xuất nguồn gốc bằng QR code. Việc đưa mã QR vào sản phẩm giúp người tiêu dùng có công cụ nhận biết nguồn gốc, đồng thời hỗ trợ cơ sở sản xuất khẳng định sản phẩm được cấp quyền sử dụng nhãn hiệu chứng nhận. Khi sản phẩm được nhận diện tốt hơn và có công cụ bảo vệ thương hiệu, giá trị của búp chè cổ thụ có điều kiện được nâng lên, góp phần tạo nguồn thu ổn định cho người trồng chè. Cùng với bảo hộ, các hợp tác xã và hộ sản xuất được hướng dẫn quản lý, sử dụng nhãn hiệu, quảng bá trên môi trường số, đàm phán hợp đồng… để chuyển từ bán lẻ manh mún sang tiếp cận thị trường bài bản hơn. Tuy nhiên, nếu muốn biến Tà Xùa thành điểm đến OCOP du lịch đúng nghĩa, địa phương cần nối QR code với câu chuyện du lịch: khi khách scan mã, họ phải thấy bản đồ những gốc chè di sản, thông tin tour đi thăm người trồng chè, chứ không chỉ là vài dòng mô tả sơ sài.

Quảng Ninh và kinh tế di sản: Di sản không chỉ để ngắm
Quảng Ninh đang chọn một con đường khác nhưng cùng hướng: phát huy giá trị di sản vịnh Hạ Long - Yên Tử để thúc đẩy du lịch, kinh tế di sản và an sinh xã hội. Thay vì coi di sản là “bảo vật cất tủ”, tỉnh đặt mục tiêu bảo tồn song song khai thác, thu hút nhà đầu tư chiến lược, nghiên cứu các dự án PPP nhằm bảo tồn, khai thác và phát huy giá trị di sản gắn với vịnh Bái Tử Long. Nhờ công tác quảng bá và kích cầu, riêng tháng 8, địa phương đón gần 2 triệu lượt khách trong nước và quốc tế với tổng doanh thu khoảng 6.700 tỷ đồng. Kế hoạch tiếp theo là đẩy nhanh Đề án kinh tế di sản, phát triển du lịch đêm, công nghiệp văn hóa và các sản phẩm du lịch mới, đồng thời triển khai giải pháp kích cầu du lịch Thu - Đông để duy trì đà tăng trưởng và hoàn thành chỉ tiêu du lịch năm 2026. Hướng đi này cho thấy di sản văn hóa, thiên nhiên nếu biết tổ chức sẽ trở thành “nhà máy” tạo việc làm không khói, thay vì chỉ là điểm check-in.
Điều đáng chú ý là kinh tế di sản ở Quảng Ninh không tách rời các chính sách chăm lo đời sống người dân. Thành phố tiếp tục rà soát, tham mưu cơ chế để thu hẹp khoảng cách phát triển giữa các vùng; triển khai hiệu quả chương trình mục tiêu quốc gia giai đoạn 2026-2030, góp phần bảo đảm an sinh xã hội và nâng cao chất lượng đời sống nhân dân. Trong giáo dục, địa phương đầu tư xây trường tại khu vực biên giới, miễn vé xe buýt điện đưa đón học sinh, trang bị điều hòa, nghiên cứu lắp điện mặt trời tại cơ sở giáo dục và triển khai chính sách hỗ trợ trực tiếp người học. Đây là lời nhắc rằng kinh tế du lịch chỉ bền vững khi lợi ích lan tỏa tới cộng đồng chứ không dừng ở doanh nghiệp. Tuy nhiên, để liên kết mạnh hơn với OCOP du lịch, Quảng Ninh cần chú ý tới sản phẩm địa phương xung quanh di sản: ẩm thực, hàng thủ công, quà tặng phải được hệ thống hóa, gắn với câu chuyện Yên Tử, Hạ Long để du khách không chỉ nhớ cảnh mà còn nhớ đặc sản.

Kết luận: OCOP du lịch là lời giải cho phát triển vì cộng đồng
Nhìn từ Phú Thọ, Tà Xùa và Quảng Ninh, có thể thấy một xu hướng rõ ràng: muốn phát triển kinh tế du lịch bền vững, địa phương phải đặt cộng đồng và sản phẩm địa phương ở trung tâm. Khi Phú Thọ từng bước đưa sản phẩm OCOP trở thành một phần của sản phẩm du lịch, gắn vùng sản xuất, làng nghề, đặc sản với trải nghiệm và tiêu dùng của du khách, chuỗi giá trị từ sản xuất, trải nghiệm đến tiêu dùng được hình thành, nâng giá trị nông sản và tạo thêm sinh kế cho người dân. Khi Tà Xùa bảo hộ nhãn hiệu, ứng dụng QR code, người trồng chè có cơ hội nâng giá trị búp chè cổ thụ. Khi Quảng Ninh làm kinh tế di sản, doanh thu du lịch đi cùng với chính sách an sinh xã hội. Điểm chung là di sản văn hóa – từ cây chè di sản đến vịnh Hạ Long – không còn là tài sản “bất động” mà tham gia trực tiếp vào chuỗi giá trị du lịch.
Tuy vậy, mô hình OCOP du lịch mới ở giai đoạn khởi đầu, còn nhiều điểm phải làm tốt hơn. Thứ nhất, cần chuyên nghiệp hóa khâu xây tour, tránh tình trạng đưa khách đến cơ sở sản xuất nhưng thiếu câu chuyện, thiếu trải nghiệm tương tác. Thứ hai, địa phương phải đầu tư đào tạo người dân về kỹ năng phục vụ, kể chuyện sản phẩm, bán hàng trên môi trường số, nếu không lợi ích sẽ tập trung vào vài doanh nghiệp mạnh. Thứ ba, tham vọng mở rộng kinh tế du lịch phải đi kèm cơ chế bảo vệ di sản, môi trường và bản sắc, tránh thương mại hóa quá đà. OCOP du lịch, nếu được triển khai đến nơi đến chốn, không chỉ là chiến lược tăng trưởng mà còn là lời cam kết rằng mọi chuyến đi đều để lại giá trị gia tăng cho cộng đồng bản địa – cả trong túi tiền lẫn trong niềm tự hào về di sản quê hương.






