Quy mô lớn sau sắp xếp cần được nhìn cùng khoảng cách
Trường học Đà Nẵng sau sắp xếp là mạng lưới cơ sở giáo dục được tổ chức lại, trong đó một số trường có hơn 100 lớp và quản lý nhiều phân hiệu cách xa trụ sở chính. Chiều 23/10, tại họp báo về tình hình kinh tế - xã hội quý III, Giám đốc Sở Giáo dục và Đào tạo Lê Thị Bích Thuận cho biết thành phố có 11 cơ sở giáo dục quy mô trên 100 lớp: 7 trường tiểu học, 3 trường THCS và một trung tâm giáo dục thường xuyên. Con số này cho thấy mức độ tập trung quy mô sau sắp xếp trường học, nhưng không thể tự nó chứng minh việc quản lý đã thuận lợi hơn. Khi các điểm trường lẻ rải trên địa bàn rộng, bài toán không chỉ là điều hành nhiều lớp mà còn là giữ cho giáo viên, học sinh ở các cơ sở xa nhau được kết nối và phục vụ đồng đều.
Có trường 180 lớp, phân hiệu cách nhau tới 70 km
Quy mô giữa các cơ sở rất lớn: Trường tiểu học Núi Thành ở xã Núi Thành có 180 lớp; Thăng An có 135 lớp, Nam Phước 129 lớp, còn các trường tiểu học khác trong danh sách có từ 103 đến 119 lớp. Ba trường THCS lần lượt có 110, 109 và 101 lớp; Trung tâm Giáo dục thường xuyên Đà Nẵng có 123 lớp. Đây không phải những con số trừu tượng: trường tiểu học Núi Thành có tới 7 phân hiệu, trong khi một số điểm lẻ ở khu vực miền núi cách cơ sở chính khoảng 30 km; hai cơ sở của trung tâm giáo dục thường xuyên cách nhau khoảng 70 km. Khoảng cách ấy khiến việc điều động nhân sự và tổ chức sinh hoạt chuyên môn tập trung khó khăn hơn. Gộp đầu mối mà không tính đủ địa lý có thể tạo ra bộ máy lớn hơn nhưng không nhất thiết phối hợp tốt hơn.

Áp lực vận hành thể hiện trong hoạt động thường ngày
Với giáo viên, quãng đường xa làm việc gặp gỡ đồng nghiệp, dự sinh hoạt chuyên môn hoặc điều chuyển giữa các phân hiệu thêm phức tạp. Với học sinh, quy mô đông còn khiến không gian trường không thể đáp ứng hoạt động tập trung toàn trường. Vì thế, đánh giá hiệu quả sắp xếp trường học chỉ bằng số cơ sở giảm hay số lớp tăng sẽ bỏ sót trải nghiệm hằng ngày tại từng điểm. Sở cho biết chưa ghi nhận nhiều phản ánh khó khăn từ cơ sở, nhưng cũng xác định địa bàn quản lý rộng và các phân hiệu cách xa điểm chính là vướng mắc lớn. Hai thực tế này nên được đặt cạnh nhau: ít phản ánh không đồng nghĩa mọi khâu vận hành đã trơn tru. Điều đáng theo dõi là học sinh ở điểm xa có được tiếp cận hoạt động, hỗ trợ chuyên môn và sự quan tâm tương xứng hay không.
Rà soát phải đi cùng điều chỉnh thực chất
Bối cảnh khiến yêu cầu kiểm tra càng cấp thiết: sau đợt sắp xếp trường phổ thông, đến cuối tháng 8 cả nước giảm gần 19.000 trường công, tương đương 50,6%; Chính phủ yêu cầu các địa phương rà soát trong tháng 10 và điều chỉnh nơi vượt khả năng quản trị, ảnh hưởng chất lượng, an toàn hoặc quyền lợi học sinh. Tại Đà Nẵng, Sở đã đề nghị các trường tổ chức hoạt động ngoại khóa và chuyên môn theo kế hoạch chung ở cả điểm chính lẫn phân hiệu, đồng thời linh hoạt hình thức giao lưu để tăng gắn kết. Đây là hướng xử lý cần thiết, nhưng hiệu quả phải được nhìn qua khả năng duy trì phối hợp thường xuyên chứ không chỉ qua kế hoạch trên giấy. Kết luận nên rõ ràng: quy mô lớn có thể là kết quả của sắp xếp, song chỉ hợp lý khi bộ máy vẫn bảo đảm chất lượng và quyền lợi học sinh ở cả những điểm trường xa nhất.






