Hà Nội đặt cược mô hình tăng trưởng mới vào khoa học công nghệ
Chiến lược khoa học Hà Nội là chương trình hành động tổng thể dùng khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo để tái cấu trúc mô hình tăng trưởng, nâng năng suất, tăng sức cạnh tranh, đồng thời xây dựng hệ sinh thái khởi nghiệp mở, cơ chế thử nghiệm có kiểm soát và ưu tiên sản phẩm công nghệ địa phương trong mua sắm công. Theo Kế hoạch số 370/KH-UBND về khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo giai đoạn 2026-2030, thành phố không che giấu tham vọng: trở thành trung tâm khoa học công nghệ và đổi mới sáng tạo hàng đầu cả nước, tiến tới nhóm dẫn đầu khu vực Đông Nam Á trên nền tảng thể chế vượt trội, hạ tầng đồng bộ và nhân lực chất lượng cao. Bối cảnh được xác định khá thẳng thắn: Hà Nội đang đứng trước yêu cầu cấp thiết phải hình thành mô hình tăng trưởng mới dựa trên tri thức, khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số, nguồn lực văn hóa và nguồn nhân lực chất lượng cao.

Kế hoạch công nghệ 2026-2030: tham vọng cao, áp lực lớn
Kế hoạch công nghệ 2026-2030 không chỉ nêu khẩu hiệu mà gắn với những chỉ tiêu định lượng đủ để tạo áp lực thay đổi hệ thống. Thành phố đặt mục tiêu đóng góp của năng suất nhân tố tổng hợp (TFP) vào tăng trưởng kinh tế đạt trên 57%; tỷ trọng xuất khẩu sản phẩm công nghệ cao trên tổng giá trị hàng hóa xuất khẩu đạt tối thiểu 50%; tổng đầu tư xã hội cho nghiên cứu và phát triển (R&D) đạt tối thiểu 2% GRDP, trong đó nguồn ngoài ngân sách nhà nước chiếm trên 60%. Đây là tuyên bố chính sách trực diện: "khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo là động lực chủ yếu để thiết lập mô hình tăng trưởng mới, cải thiện năng suất, chất lượng và sức cạnh tranh, thúc đẩy tăng trưởng kinh tế hai con số". Đáng chú ý, riêng năm 2026, thành phố dự kiến bố trí 4% tổng chi cân đối ngân sách địa phương cho khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số, các năm tiếp theo tiếp tục ưu tiên nguồn lực.

Cơ chế đổi mới sáng tạo: Sandbox và Make in Hanoi công nghệ
Điểm khác biệt của chiến lược khoa học Hà Nội là dám thay đổi cơ chế thay vì chỉ tăng thêm dự án. Luật Thủ đô sửa đổi tạo nền tảng pháp lý để thành phố triển khai cơ chế thử nghiệm có kiểm soát (sandbox) cho công nghệ, sản phẩm, dịch vụ và mô hình kinh doanh mới. Nghị quyết số 26/2026/NQ-HĐND thiết lập trình tự, thủ tục thống nhất, minh bạch, khả thi để cho phép, gia hạn, điều chỉnh, tạm dừng, chấm dứt, hoàn thành thử nghiệm; đồng thời bảo vệ người tham gia, dữ liệu cá nhân, dữ liệu và tài sản công, lợi ích công cộng, tạo căn cứ tổng kết thực tiễn, kiến nghị hoàn thiện pháp luật và nhân rộng mô hình hiệu quả. Thành phố ưu tiên các công nghệ như AI, dữ liệu lớn, blockchain, robot, tài sản số, drone, fintech, xe tự hành, công nghệ y-sinh, vật liệu mới. Bên cạnh sandbox, Hà Nội nghiên cứu xây dựng cơ chế ưu tiên mua sắm công, đặt hàng công cho sản phẩm công nghệ "Make in Hanoi"/"Make in Vietnam", qua đó dùng sức mua của Nhà nước làm bệ phóng cho doanh nghiệp công nghệ địa phương.

Mục tiêu xếp hạng khu vực, toàn cầu và bài toán nhân lực
Một tham vọng then chốt của kế hoạch công nghệ 2026-2030 là vị thế khoa học của Hà Nội trên bản đồ khu vực. Thành phố đặt mục tiêu đến năm 2030 có 8-10 tổ chức khoa học và công nghệ được xếp hạng khu vực và thế giới; phát triển từ 3-5 tổ chức nghiên cứu và phát triển công lập thuộc thành phố thành tổ chức xuất sắc. Để đạt được điều này, chỉ đầu tư tiền là chưa đủ, nên kế hoạch nhấn mạnh vào nhân lực và hệ sinh thái. Nhân lực nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ (quy đổi toàn thời gian) phải đạt 14 người trên một vạn dân; tỷ lệ lực lượng lao động trí thức trong các ngành công nghiệp công nghệ cao và công nghiệp chiến lược tăng lên tối thiểu 25%; thành phố đặt mục tiêu thu hút trên 200 chuyên gia, nhà khoa học là trí thức người Việt Nam ở nước ngoài tiêu biểu tham gia hợp tác nghiên cứu, đào tạo, chuyển giao công nghệ cho Thủ đô. Song song, số lượng công bố khoa học quốc tế tăng bình quân 10%/năm; số lượng đơn đăng ký sáng chế, văn bằng bảo hộ sáng chế tăng bình quân 16-18%/năm.

Từ bản kế hoạch tới thực thi: Hà Nội có dám giải bài toán tiếp theo?
Một bản kế hoạch bài bản không tự động biến Hà Nội thành trung tâm khoa học Đông Nam Á. Thách thức nằm ở chỗ biến các chỉ tiêu thành dự án cụ thể gắn với bài toán giao thông, môi trường, y tế, giáo dục, quản lý đô thị – những vấn đề được chính thành phố xác định là mục tiêu trực tiếp của hoạt động khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo. Kế hoạch cũng yêu cầu chuyển từ quản lý theo đề tài đơn lẻ sang quản trị theo chương trình, sản phẩm, kết quả dựa trên hệ thống chỉ tiêu đo lường hiệu suất. Điều này nếu được thực hiện nhất quán sẽ buộc các viện, trường, doanh nghiệp và cơ quan quản lý thay đổi cách làm, tăng trách nhiệm giải trình. Sau giai đoạn thử nghiệm sandbox, UBND thành phố sẽ phải tổng kết, báo cáo HĐND và kiến nghị Chính phủ, bộ, ngành, Quốc hội hoặc cơ quan có thẩm quyền để nhân rộng mô hình hiệu quả. Nếu Hà Nội đi hết con đường từ sandbox đến chính sách và từ ưu tiên Make in Hanoi công nghệ đến doanh nghiệp chiến lược tầm khu vực, tham vọng trở thành trung tâm khoa học Đông Nam Á sẽ không còn là khẩu hiệu.






