Khám phá sở thích, cùng nhau

Deal thật, đánh giá chân thực và câu chuyện mua sắm từ những người cùng sở thích với bạn — mỗi ngày trên Sammfy.

Khám phá sở thích, cùng nhauDeal thật, đánh giá chân thực và câu chuyện mua sắm từ những người cùng sở thích với bạn — mỗi ngày trên Sammfy.

Cao Bằng và Ninh Bình: Khi di sản trở thành chiến lược du lịch bền vững

Cao Bằng và Ninh Bình: Khi di sản trở thành chiến lược du lịch bền vững
Sở thích|Điểm đến nước ngoài

Du lịch bền vững Việt Nam: bắt đầu từ việc đối xử nghiêm túc với di sản

Du lịch bền vững Việt Nam là cách phát triển điểm đến sao cho lợi ích kinh tế gắn chặt với bảo tồn văn hóa dân tộc, bảo vệ môi trường và tăng quyền chủ động cho cộng đồng địa phương, trong đó di sản UNESCO Cao Bằng và các làng nghề truyền thống ở Ninh Bình trở thành hạt nhân tạo ra trải nghiệm sâu sắc cho du khách và sinh kế lâu dài cho người dân. Câu chuyện của Cao Bằng và Ninh Bình cho thấy mô hình phát triển dựa trên di sản không phải khẩu hiệu mà là lựa chọn chiến lược. Hai tỉnh đang đặt cược vào những giá trị “không thể sao chép”: ngôn ngữ, lễ hội, nghề thủ công, làng nghề để tạo khác biệt bền vững, thay vì chạy theo số lượng khách hay các công trình nhân tạo dễ lỗi thời. Đây là hướng đi đáng chú ý trong bức tranh cạnh tranh điểm đến ngày càng gay gắt.

Cao Bằng: kho tàng văn hóa đa dân tộc gắn với di sản UNESCO

Điểm mạnh lớn nhất của Cao Bằng không phải chỉ là thác Bản Giốc hay động Ngườm Ngao, mà là một không gian văn hóa đa dân tộc hiếm có: đồng bào dân tộc thiểu số chiếm hơn 95% dân số, với cộng đồng Tày, Nùng, Mông, Dao, Lô Lô, Sán Chỉ cùng chung sống. Đây là nền tảng để tỉnh xây dựng các sản phẩm du lịch cộng đồng và du lịch trải nghiệm gắn với Công viên địa chất toàn cầu UNESCO Non nước Cao Bằng, biến di sản địa chất và văn hóa thành một chỉnh thể. Theo thống kê, Cao Bằng hiện có 271 di tích lịch sử - văn hóa và danh lam thắng cảnh, trong đó 102 di tích đã được xếp hạng các cấp. Con số này không chỉ thể hiện mật độ di sản, mà đặt ra câu hỏi: nếu không gắn bảo tồn với phát triển kinh tế, lấy đâu ra nguồn lực để chăm sóc khối di sản đồ sộ đó?

Thực hành Then của người Tày, Nùng, Thái đã được ghi danh là Di sản văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại, nhưng Cao Bằng không “đóng khung” Then trong hồ sơ di sản. Then bước ra khỏi không gian tín ngưỡng, trở thành tiết mục được truyền dạy và trình diễn trong các hoạt động văn hóa, du lịch. Một ngôi nhà sàn được bảo tồn trở thành homestay; nghề rèn của người Nùng An ở Phúc Sen thành điểm trải nghiệm; món ăn, lễ hội, dân ca trở thành sản phẩm du lịch cụ thể. Đây là lựa chọn mang tính quan điểm: coi người dân là chủ thể, để văn hóa trở thành sinh kế. Nếu không biến di sản thành nguồn thu hợp pháp cho cộng đồng, mọi khẩu hiệu bảo tồn rất dễ bị bỏ lại sau áp lực mưu sinh.

Từ bản làng Cao Bằng đến làng nghề Ninh Bình: văn hóa thành sinh kế

Ở nhiều bản làng Cao Bằng, nhà truyền thống, món ăn địa phương, nghề thủ công, trang phục và những câu chuyện về vùng đất đã được kết hợp thành trải nghiệm trọn vẹn cho du khách. Du khách không chỉ đến để chụp ảnh mà còn được sống cùng nhịp sinh hoạt: ngủ trong nhà sàn, nghe Then, học đan lát, xem rèn dao. Tương tự, Ninh Bình không coi làng nghề truyền thống là “bảo tàng sống” bất động, mà là nguồn lực kinh tế nếu được kết nối với du lịch bền vững Việt Nam. Tỉnh đặt mục tiêu rà soát toàn diện các làng nghề, công nhận thêm 1–2 làng nghề đủ điều kiện, có ít nhất 15 sản phẩm được đánh giá, phân hạng theo chương trình OCOP và đào tạo khoảng 300 lượt lao động, nghệ nhân, chủ cơ sở sản xuất về kỹ năng nghề, quản trị, thương mại điện tử, du lịch trải nghiệm và bảo vệ môi trường. Đây là con số thể hiện rõ: không có con người được trang bị năng lực mới, sẽ không có mô hình mới.

Ninh Bình phủ nhận cách làm chạy theo thành tích khi khẳng định không đặt mục tiêu về số lượng làng nghề được công nhận, mà chú trọng hiệu quả hoạt động và khả năng duy trì, phát triển bền vững. Trọng tâm là bảo tồn, phục hồi những nghề có giá trị văn hóa đặc sắc, nhất là nghề có nguy cơ mai một, đồng thời nâng cao giá trị gia tăng, chất lượng và sức cạnh tranh của sản phẩm. Nói cách khác, làng nghề truyền thống phải có đầu ra ổn định, có du khách đến trải nghiệm, có sản phẩm đủ hấp dẫn để người mua trả tiền. Nếu sản phẩm làng nghề chỉ đẹp “trong báo cáo” nhưng không bán được, cả hệ thống bảo tồn sẽ thiếu động lực. Cách tiếp cận đặt tiêu chí kinh tế song hành với bảo vệ môi trường và văn hóa là bước chuyển quan trọng, tránh biến bảo tồn thành gánh nặng.

Ninh Bình: kế hoạch 2026-2030 và du lịch trải nghiệm từ làng nghề

UBND tỉnh Ninh Bình đã ban hành Kế hoạch triển khai “Đề án bảo tồn và phát triển làng nghề, làng nghề truyền thống gắn với phát triển du lịch giai đoạn 2026-2030, tầm nhìn đến năm 2045”. Năm 2027 được xác định là năm triển khai nền tảng: rà soát, hoàn thiện cơ sở dữ liệu, xây dựng mô hình điểm và hỗ trợ những làng nghề có tiềm năng. Điều đáng nói là định hướng rõ ràng gắn làng nghề với du lịch văn hóa, du lịch cộng đồng, du lịch trải nghiệm và du lịch nông thôn, thay vì để nghề truyền thống tồn tại biệt lập. Trong năm 2027, các mô hình du lịch trải nghiệm dự kiến được xây dựng tại làng nghề sinh dược Gia Sinh, làng hoa cây cảnh Vị Khê, làng đá mỹ nghệ Ninh Vân…; du khách không chỉ tham quan mà còn trực tiếp trải nghiệm một số công đoạn sản xuất để hiểu hơn về nghề, sản phẩm và giá trị văn hóa được gìn giữ qua nhiều thế hệ.

Việc xây dựng các tuyến du lịch kết nối làng nghề với Tràng An, Bái Đính, Tam Cốc, Phát Diệm cho thấy Ninh Bình muốn di chuyển du khách từ các “điểm nóng” danh thắng về không gian đời sống của người dân. Đây không chỉ là giải pháp mở rộng sản phẩm du lịch mà còn tạo thêm đầu ra cho sản phẩm làng nghề, tăng cơ hội việc làm và thu nhập, đồng thời đưa giá trị văn hóa truyền thống đến gần hơn với du khách. Nếu làm tốt, làng nghề sẽ không bị biến thành “phụ lục” cho tuyến tham quan, mà trở thành nơi du khách xem Ninh Bình ở chiều sâu: mùi đất trong vườn hoa, tiếng đục đá trong xưởng nhỏ, câu chuyện nghề truyền qua nhiều thế hệ. Đó là trải nghiệm mà công trình du lịch nhân tạo khó có thể thay thế.

Mô hình kết hợp bảo tồn di sản với kinh tế địa phương: bài học chung

Điểm gặp nhau của Cao Bằng và Ninh Bình là cùng coi bảo tồn văn hóa dân tộc là nền tảng cho du lịch bền vững chứ không phải “chi tiết phụ”. Ở Cao Bằng, một ngôi nhà sàn được bảo tồn có thể trở thành homestay; nghề thủ công thành sản phẩm lưu niệm; món ăn truyền thống thành thương hiệu ẩm thực; lễ hội dân gian thành không gian trải nghiệm văn hóa. Bảo tồn và phát triển du lịch vì thế không phải hai mục tiêu tách rời, mà là hai mặt của cùng một quá trình: bảo tồn tạo sức hấp dẫn cho du lịch, còn du lịch tạo nguồn lực để văn hóa tiếp tục được gìn giữ và truyền lại cho các thế hệ sau. Trong khi đó, Ninh Bình đặt yêu cầu phát triển làng nghề phải song hành với bảo vệ môi trường và du lịch bền vững, rõ ràng coi kinh tế, văn hóa, môi trường là một tam giác phải cân bằng.

Câu hỏi đặt ra là: làm thế nào để mô hình này không dừng ở vài điểm sáng? Cả hai tỉnh đều đã bắt đầu bằng việc xây dựng thể chế rõ ràng, kế hoạch dài hạn và đưa cộng đồng vào trung tâm. Cao Bằng tiếp tục hoàn thiện mô hình du lịch cộng đồng theo hướng người dân là chủ thể; nhà nước hỗ trợ hạ tầng, đào tạo, quảng bá; doanh nghiệp kết nối thị trường; cộng đồng giữ vai trò trung tâm trong bảo tồn và cung cấp trải nghiệm. Đó là cấu trúc phân vai tương đối hợp lý. Về phía Ninh Bình, việc chuẩn bị dữ liệu, đào tạo nhân lực, chọn làng nghề có giá trị đặc sắc để xây mô hình điểm cho thấy cách làm cẩn trọng, tránh phong trào. Nếu các địa phương khác nhìn nhận di sản của mình không chỉ là quá khứ, mà là tài sản kinh tế, câu chuyện du lịch bền vững Việt Nam sẽ thuyết phục hơn nhiều.

Sammfy nhận hoa hồng khi bạn mua sắm qua liên kết của chúng tôi, bạn không phải trả thêm chi phí.

You May Also Like

Comments
Viết gì đó...
Chưa có bình luận nào. Hãy là người đầu tiên chia sẻ suy nghĩ!