Khi tài nguyên nằm im: bức tranh chung của chuỗi cung ứng khoáng sản
Khai thác khoáng sản Việt Nam là quá trình đưa các nguồn tài nguyên như quặng sắt, quặng apatit và vật liệu xây dựng từ lòng đất vào chuỗi cung ứng công nghiệp, nhưng hiện đang bị cản trở bởi hạ tầng yếu, thủ tục chồng chéo và vướng mắc giải phóng mặt bằng, khiến nhiều mỏ lớn nằm cạnh nhà máy vẫn chưa thể khai thác hiệu quả. Bức tranh khoáng sản hôm nay là sự đối lập khó chấp nhận: trữ lượng dồi dào nhưng doanh nghiệp thiếu nguyên liệu, dự án phải xoay xở qua điều phối liên tỉnh, còn người dân sống trên vùng mỏ đối mặt di dời và đổi sinh kế. Nếu không nhìn thẳng vào những nút thắt của chuỗi cung ứng quặng, Việt Nam sẽ tiếp tục trả chi phí lớn cho sự lãng phí tài nguyên ngay trước cửa nhà mình.

Mỏ sắt Nà Rụa: 16 triệu tấn quặng và 200 tỷ tiền vận chuyển mỗi năm
Câu chuyện mỏ sắt Nà Rụa cho thấy rõ thế nào là mỏ sắt chưa khai thác bị khóa bởi thủ tục. Khu Bắc mỏ sắt Nà Rụa có hơn 16 triệu tấn quặng, nằm cách Khu liên hợp Gang thép Cao Bằng khoảng 2km nhưng nhiều năm chưa thể khai thác. Trong thời gian chờ nguồn quặng này, nhà máy tại phường Tân Giang phải mua quặng từ Lào Cai, Thái Nguyên, Tuyên Quang, có nguồn phải vượt hơn 600km mới tới nơi. Mỗi năm, riêng tiền vận tải quặng của doanh nghiệp vào khoảng 200 tỷ đồng. Nghịch lý này kéo dài suốt khoảng 15 năm, chủ yếu vì vướng giải phóng mặt bằng liên quan đến hàng trăm hộ dân, nhiều phần mộ với hồ sơ đất đai phức tạp. Câu chuyện của các hộ như gia đình anh Nguyễn Bằng Giang nhắc rằng, phía sau mỗi hecta đất là cả lịch sử sinh kế và gắn bó, nên mọi phương án bồi thường, tái định cư phải đủ thuyết phục thì chuỗi cung ứng quặng mới thực sự thông suốt.
Điểm sáng là bước khởi động khai trường khu Bắc đã xuất hiện. Ngày 2/10, máy móc bắt đầu bóc lớp đất hữu cơ trên phần mặt bằng vừa được bàn giao tại khu Bắc mỏ sắt Nà Rụa. Theo kế hoạch, sau bước bóc lớp đất hữu cơ, doanh nghiệp dự kiến từ ngày 5/10 triển khai bóc đất khai trường, với 600.000m³ đất trong năm 2026 và khoảng 2,2 triệu m³ năm 2027. Dự kiến quặng Nà Rụa sẽ được đưa vào chuỗi khai thác, luyện gang, sản xuất phôi và cán thép tại Cao Bằng nếu các hạng mục triển khai đúng tiến độ. Vấn đề không chỉ là khối lượng bóc đất hay sản lượng quặng (hướng tới 350.000 tấn/năm từ năm 2029), mà là bài học: nếu không giải quyết dứt điểm quyền lợi người dân và thủ tục đất đai từ đầu, mọi mỏ sắt chưa khai thác đều có thể biến thành khe rò chi phí đối với toàn chuỗi cung ứng quặng.

Apatit Việt Nam: khi mắt xích quặng apatit đe dọa cả ngành hóa chất – phân bón
Trong chuỗi cung ứng quặng phục vụ hóa chất và phân bón, Apatit Việt Nam giữ vai trò trung tâm, nhưng lại đang bị thiếu nguyên liệu ngay trên vùng mỏ của mình. Báo cáo của Công ty Apatit Việt Nam nêu rõ, từ đầu tháng 6/2026, cả ba nhà máy tuyển Tằng Loỏng, Cam Đường và Bắc Nhạc Sơn với tổng công suất tuyển quặng apatit 1,37 triệu tấn/năm phải dừng sản xuất do thiếu quặng loại III. Các nhà máy tuyển còn gặp khó khăn về hồ thải, bãi thải đã đầy hoặc hết hạn thuê đất, cùng hàng loạt vướng mắc thủ tục đất đai, môi trường. Nguồn quặng apatit loại III tận thu từ Mỏ Cóc 1, với giấy xác nhận đăng ký thu hồi khối lượng 436.565 tấn, chỉ đủ duy trì hoạt động của một phần công suất đến hết tháng 11/2026. Khi một mắt xích như Apatit Việt Nam quặng bị nghẽn, tác động không dừng lại ở hơn 1.000 người lao động và nghĩa vụ ngân sách doanh nghiệp, mà lan sang toàn ngành phân bón – hóa chất vốn phụ thuộc vào nguồn quặng ổn định.
Điểm đáng chú ý là định hướng không chỉ mở thêm khai trường, mà khai thác tốt hơn phần tài nguyên hiện có. Tại Khai trường 19, các hạng mục xây dựng cơ bản mỏ đã tiếp tục được thi công từ ngày 18/9/2026, song song với việc đẩy nhanh giải phóng mặt bằng để hoàn thành các công trình bảo vệ môi trường phục vụ xin cấp giấy phép môi trường. Doanh nghiệp đề nghị điều chỉnh công suất, tăng sản lượng khai thác Khai trường 19 và cải tạo, nâng cấp thiết bị tại các nhà máy tuyển. Đáng chú ý là đề xuất tuyển lại quặng đuôi và làm giàu quặng loại IV khó tuyển. Đây là lựa chọn hợp lý: thay vì chạy theo sản lượng, Apatit Việt Nam có thể nâng hiệu quả bằng cách thu hồi phần tài nguyên nằm trong quặng đuôi, giảm lãng phí, đồng thời tạo dư địa cho công nghệ xử lý quặng khó. Nếu những đề xuất này không được tháo gỡ nhanh về thủ tục, bài toán thiếu quặng sẽ còn trở lại, mỗi lần với cái giá lớn hơn cho toàn chuỗi cung ứng quặng apatit.

Điều phối vật liệu xây dựng: khi thiếu hụt lan sang hạ tầng quốc gia
Nút thắt khoáng sản không chỉ nằm ở sắt và apatit, mà đã hiện rõ trong vật liệu xây dựng thiếu hụt cho các dự án lớn. Theo báo cáo của các địa phương về phương án điều phối vật liệu phục vụ các công trình trọng điểm quốc gia giai đoạn 2026 đến 2030, có 6 tỉnh, thành phố gồm Hà Nội, Hưng Yên, Tây Ninh, Cà Mau, Cần Thơ, Ninh Bình không tự cân đối được nguồn vật liệu xây dựng thông thường phục vụ các dự án. Đề xuất đặt ra là điều phối, hỗ trợ nguồn vật liệu xây dựng thông thường giữa các tỉnh, thành phố để đáp ứng nhu cầu cho các công trình, dự án quan trọng trọng điểm quốc gia. Trên cơ sở đó, Phó Thủ tướng Thường trực giao Bộ Công Thương chủ trì phối hợp các bộ, địa phương rà soát, đánh giá trữ lượng thực tế các mỏ vật liệu xây dựng thông thường và quyết định việc điều phối, hỗ trợ trước ngày 15/10/2026. Việc nhà nước phải đứng ra điều phối vật liệu giữa các tỉnh là tín hiệu rõ ràng rằng thị trường khoáng sản xây dựng đang gặp trục trặc về phân bổ nguồn lực, quy hoạch mỏ và năng lực khai thác.
Đáng nói hơn, những quyết định ở tầm vĩ mô này đi thẳng vào đời sống người dân. Khi mỏ đất tại các địa phương được khai thác theo cơ chế đặc thù phục vụ đầu tư công, người dân quanh mỏ đối mặt thay đổi cảnh quan, sinh kế; khi một tỉnh thiếu đất, cát, đá cho dự án hạ tầng, tiến độ đường sá, bệnh viện, trường học bị kéo dài, tác động trực tiếp đến chất lượng sống. Nhu cầu bảo vệ môi trường, ổn định dòng chảy và an toàn công trình đặt ra những giới hạn rõ ràng đối với khai thác. Bài toán không còn là “có mỏ hay không”, mà là liệu hệ thống quy hoạch, giám sát và điều phối có đủ linh hoạt để vừa bảo đảm nguồn vật liệu xây dựng, vừa tránh lặp lại mô hình mỏ mở ra – dân khiếu nại – dự án đình trệ như đã thấy ở nhiều vùng khoáng sản.

Gỡ rối chuỗi cung ứng khoáng sản: từ từng bộ hồ sơ đất đến cải tiến công nghệ
Nhìn từ mỏ sắt Nà Rụa, Apatit Việt Nam và bài toán vật liệu xây dựng, chuỗi cung ứng khoáng sản Việt Nam đang mắc kẹt trong một bộ ba thách thức: giải phóng mặt bằng chậm, thủ tục đất đai – môi trường chồng chéo, và năng lực công nghệ chưa theo kịp yêu cầu sử dụng tài nguyên hiệu quả. Với sắt, việc để mỏ 16 triệu tấn nằm cạnh khu liên hợp mà phải mua quặng từ xa suốt 15 năm là sự lãng phí không thể chấp nhận. Với apatit, để ba nhà máy tuyển phải dừng hoặc giảm mạnh sản xuất trong khi nguồn quặng tận thu chỉ đủ đến hết tháng 11/2026 cho thấy quy hoạch khai thác và hồ thải chưa bền vững. Với vật liệu xây dựng, việc phải điều phối liên tỉnh mới bảo đảm nhu cầu cho công trình trọng điểm chứng minh rằng quy hoạch mỏ xây dựng chưa đi cùng tốc độ đầu tư hạ tầng.
Để gỡ rối, Việt Nam không thể chỉ kỳ vọng thêm vài văn bản chỉ đạo. Cần cách làm khác ở từng lớp: ở cơ sở, từng hồ sơ bồi thường, hỗ trợ, đất ở, tái định cư và di chuyển mồ mả phải được giải quyết minh bạch, nhanh, để người dân có thể chuyển đi mà không cảm thấy bị bỏ lại phía sau. Ở cấp doanh nghiệp, phải coi công nghệ tuyển lại quặng đuôi, làm giàu quặng khó tuyển là chiến lược chứ không phải giải pháp tình thế. Ở cấp quản lý nhà nước, quy hoạch thăm dò, khai thác, chế biến và sử dụng khoáng sản cần được điều chỉnh kịp thời theo thực tế dự án, đồng thời gắn với cơ chế điều phối vật liệu giữa các địa phương. Nếu không coi chuỗi cung ứng quặng là hạ tầng của công nghiệp, Việt Nam sẽ tiếp tục xây các nhà máy trên nền nguyên liệu thiếu ổn định, và trả giá bằng tăng chi phí, giảm sức cạnh tranh cho cả nền sản xuất.







