Nhà khoa học Việt Nam: khi nghề nghiệp trở thành sứ mệnh
Những nhà khoa học Việt Nam cống hiến cả đời cho sự nghiệp thường là những người biến tri thức thành trách nhiệm đạo đức, xem nghiên cứu, giảng dạy và chữa bệnh không phải là lựa chọn nghề nghiệp thuần túy mà là lời hứa với gia đình, với nhân dân và với Tổ quốc, từ đó tạo nên di sản khoa học vượt qua khuôn khổ một đời người. Họ giống nhau ở một điểm: lý tưởng đến trước lợi ích, và niềm tin vào sức mạnh của khoa học dẫn đường cho mọi quyết định lớn trong đời. Quan sát GS Nguyễn Lân Việt, GS Đặng Văn Ngữ và GS.VS Trần Đại Nghĩa, có thể thấy rõ khoa học Việt Nam đã được dựng lên bởi những số phận sẵn sàng đánh đổi an nhàn cá nhân để đổi lấy sức khỏe cộng đồng và độc lập dân tộc.
GS Nguyễn Lân Việt: từ lời cha dặn đến sứ mệnh thầy thuốc – thầy giáo
Con đường của giáo sư y học Nguyễn Lân Việt bắt đầu không phải từ một giấc mơ áo blouse mà từ lời nhắn của người cha mong có người nối nghiệp y đức trong gia đình. Lắng nghe nguyện vọng đó, ông rẽ hướng thi vào Trường Đại học Y Hà Nội năm 1970, bỏ dở ước mơ ban đầu với khoa Toán – Lý. Sau hơn nửa thế kỷ gắn bó, ông coi nghề thầy thuốc là một "sứ mệnh cao quý" chứ không chỉ là nghề để mưu sinh. Niềm đam mê tim mạch cùng tinh thần tận tụy nghiên cứu đã đưa ông trở thành một trong những chuyên gia hàng đầu, đặt nền móng cho tim mạch can thiệp và triển khai hàng loạt kỹ thuật tiên tiến như đặt stent động mạch vành, TAVI hay can thiệp tim bẩm sinh. Nhờ đó, người dân nhiều vùng xa xôi được tiếp cận kỹ thuật cao ngay tại địa phương, giảm chi phí điều trị và hạn chế việc phải ra nước ngoài chữa bệnh. Di sản khoa học của ông không chỉ là các kỹ thuật, mà còn là 19 đầu sách, giáo trình và hơn 140 bài báo khoa học giúp thế hệ sau tiếp tục nâng chuẩn nghề y.

GS Đặng Văn Ngữ: hi sinh giữa Trường Sơn, để lại lá chắn chống sốt rét
Trong các giáo sư y học, Đặng Văn Ngữ là biểu tượng rực sáng của tinh thần hi sinh vì khoa học và kháng chiến. Sau khi trở thành bác sĩ, rồi nhà nghiên cứu ký sinh trùng với 19 công trình có giá trị được biết đến trong và ngoài nước, ông vẫn chọn quay về nước năm 1949 để "phục vụ nhân dân, phục vụ Tổ quốc" theo lời kêu gọi của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Viện Sốt rét Ký sinh trùng và Côn trùng Trung ương do ông sáng lập năm 1957 đã giúp miền Bắc đẩy lùi bệnh sốt rét xuống còn 20% vào cuối năm 1964 – một con số cho thấy sức nặng của di sản khoa học mà ông để lại. Tháng 2/1967, ông dẫn đoàn công tác đặc biệt vào Vĩnh Linh để nghiên cứu điều trị sốt rét cho bộ đội trên mặt trận Trường Sơn. Ngày 1/4/1967, ông hy sinh cùng hai đồng nghiệp sau một loạt bom B52 giữa núi rừng. Những phương pháp điều trị sốt rét và loại "nước thần" rửa vết thương giúp thương binh tránh phải cưa chân tay, thoát nguy cơ tử vong do nhiễm trùng, là minh chứng rằng tận tụy nghiên cứu có thể trực tiếp cứu sống hàng nghìn người trong hoàn cảnh chiến tranh khốc liệt.

GS.VS Trần Đại Nghĩa: trí tuệ lớn gắn chặt với cách mạng và thế hệ trẻ
Nếu hai giáo sư y học đại diện cho mặt trận cứu người trong bệnh viện và chiến khu, thì GS.VS Trần Đại Nghĩa là nhà khoa học lớn gắn trí tuệ với quân giới và phát triển khoa học nước nhà. Sinh trong gia đình nhà giáo, đứng đầu kỳ thi tú tài và có tới 6 bằng đại học, ông từng có công việc ở Paris với mức lương tương đương 22 lượng vàng mỗi tháng, nhưng đã từ bỏ để theo Chủ tịch Hồ Chí Minh về nước năm 1946. Được Bác đặt tên Trần Đại Nghĩa khi giao làm Cục trưởng Cục Quân giới, ông cùng đồng đội chế tạo súng bazooka, SKZ, đạn bay và nhiều cải tiến phục vụ đánh B-52. Trong phòng làm việc chỉ khoảng 9m2, vài dụng cụ thô sơ, ông vẫn làm ngày đêm để hoàn thành nhiệm vụ. Sau này, trên cương vị Viện trưởng Viện Khoa học Việt Nam, ông tiếp tục xây dựng nền tảng nghiên cứu cho cả nước. Những mái trường, quỹ học bổng và hội thi sáng tạo kỹ thuật mang tên ông đã trở thành môi trường để thế hệ trẻ nuôi dưỡng hoài bão lớn, kiên trì học tập và nghiên cứu khoa học – đúng như lời ông nhấn mạnh rằng tuổi trẻ phải có định hướng và khát vọng.
Di sản khoa học và lời nhắn gửi cho thế hệ hôm nay
Điểm chung của ba nhà khoa học Việt Nam là họ đều để cho niềm tin – vào gia đình, vào lãnh tụ, vào nhân dân – dẫn dắt lựa chọn nghề nghiệp. Nguyễn Lân Việt nghe lời cha để nối nghiệp y đức, rồi biến lời dặn đó thành cả một di sản khoa học tim mạch và giáo dục y khoa. Đặng Văn Ngữ từ chối mọi đãi ngộ của Pháp, Nhật, Mỹ để về nước nghiên cứu sốt rét, cứu sức khỏe lực lượng kháng chiến trong lúc bệnh này có nơi chiếm hơn 50% số quân, làm suy giảm nghiêm trọng sức chiến đấu. Trần Đại Nghĩa rời bỏ cuộc sống sung túc, chấp nhận căn phòng 9m2 đầy thiếu thốn để dốc sức cho quân giới và nền khoa học chung của đất nước. Di sản khoa học của họ không chỉ là các con số, công trình hay kỹ thuật, mà là một hệ giá trị: coi khoa học là công cụ phụng sự Tổ quốc, đặt con người ở trung tâm mọi nghiên cứu, và hiểu rằng thành công cá nhân chỉ có ý nghĩa khi được hoà vào tiến bộ cộng đồng. Đó là lời nhắn gửi rõ ràng cho thế hệ trẻ: nếu muốn xây dựng di sản lâu dài, hãy bắt đầu từ lý tưởng và sự tận tụy nghiên cứu chứ không phải từ danh vọng.






