Nhà máy điện rác Việt Nam: Không chỉ xử lý chất thải rắn mà còn tạo nguồn năng lượng sạch
Nhà máy điện rác Việt Nam là các cơ sở xử lý chất thải rắn sinh hoạt bằng công nghệ đốt rác phát điện, vừa giảm ô nhiễm môi trường, vừa biến rác thải thành nguồn năng lượng tái tạo cung cấp cho hệ thống điện, qua đó hỗ trợ phát triển kinh tế – xã hội và nâng cao chất lượng sống của người dân đô thị lẫn nông thôn. Đặt trong bối cảnh lượng rác tăng nhanh, đây không còn là dự án môi trường đơn lẻ mà là công trình hạ tầng thiết yếu, đòi hỏi sự phối hợp chặt chẽ giữa chính quyền và doanh nghiệp để vận hành ổn định, an toàn, hiệu quả. Điểm đáng chú ý là cách các địa phương chủ động "tháo gỡ khó khăn" thay vì để dự án tự xoay xở. Tại Bắc Ninh, Bí thư Tỉnh ủy Nguyễn Hồng Thái trực tiếp chủ trì làm việc với các nhà máy xử lý chất thải rắn sinh hoạt phát năng lượng ở Phù Lãng, Lương Tài và Song Liễu, cùng sự tham gia của lãnh đạo UBND tỉnh và các sở ngành liên quan. Cách tiếp cận này cho thấy nhận thức rõ: nếu không giải quyết sớm các điểm nghẽn về thủ tục, giá xử lý và hạ tầng, nhà máy điện rác khó có thể phát huy hết vai trò trong chiến lược năng lượng tái tạo và bảo vệ môi trường.

Bắc Ninh: Gỡ nút thắt về đơn giá, hợp đồng và hạ tầng cho các nhà máy xử lý chất thải rắn
Bắc Ninh đang sở hữu ba nhà máy điện rác quy mô đáng kể, nhưng công suất thiết kế chỉ là tiềm năng nếu bài toán quản trị không được giải quyết. Nhà máy xử lý chất thải rắn sinh hoạt công nghệ cao phát năng lượng tại xã Phù Lãng có công suất 600 tấn/ngày, phát điện 11MW và hiện xử lý khoảng 530 tấn rác/ngày từ 16 xã, phường. Nhà máy điện rác Lương Tài tại xã Trung Kênh thiết kế xử lý 300 tấn/ngày đêm, công suất phát điện 6MW, đã tiếp nhận hơn 159.515 tấn rác thải sinh hoạt từ 16 xã, phường trong giai đoạn từ đầu 2025 đến cuối tháng 8/2026. Trong khi đó, nhà máy tại phường Song Liễu có công suất 500 tấn/ngày đêm, lắp đặt 11–13MW, tổng lượng rác tiếp nhận trong 8 tháng năm 2026 ước hơn 119 nghìn tấn, trong đó hơn 88,4 nghìn tấn là chất thải rắn sinh hoạt. Tuy nhiên, các doanh nghiệp đều chung một loạt kiến nghị: cần sớm ban hành đơn giá chính thức xử lý chất thải rắn sinh hoạt áp dụng cho nhà máy điện rác, giao một đầu mối ký hợp đồng xử lý chất thải rắn, đồng thời bố trí quỹ đất cho việc xử lý, tái chế tro bay. Nếu các yêu cầu này không được giải quyết, nhà máy sẽ bị kìm chân bởi hợp đồng chậm ký, dòng tiền không ổn định và không gian kỹ thuật thiếu. Đáng chú ý, lãnh đạo tỉnh không né tránh mà giao nhiệm vụ cụ thể: Sở Xây dựng nghiên cứu vị trí đất cho xử lý tro bay, Sở Tài chính phối hợp với Sở Nông nghiệp và Môi trường và doanh nghiệp xây dựng đơn giá, hướng dẫn xã, phường và "đẩy nhanh tiến độ ký hợp đồng với doanh nghiệp, hoàn thành trong tháng 9". Đây là một tuyên bố đáng trích dẫn, vì nó đặt ra thời hạn rõ ràng cho việc tháo gỡ điểm nghẽn tài chính.
Song song với đó là loạt động thái về vận hành: doanh nghiệp đề nghị địa phương tăng cường thu gom, vận chuyển rác đúng thời gian quy định, xử lý tình trạng rác tồn đọng kéo dài và ngăn chặn việc người dân tự ý đốt rác tại điểm trung chuyển. Với quan điểm "xử lý rác thải phải hướng tới môi trường xanh, sạch, an toàn, bảo đảm người dân được hưởng lợi", lãnh đạo tỉnh đang chuyển áp lực xử lý rác từ vài bãi chôn lấp sang mạng lưới nhà máy điện rác, nơi rác trở thành đầu vào của hệ thống năng lượng tái tạo. Đây không chỉ là cải tiến kỹ thuật, mà là thay đổi logic quản trị: coi rác như tài nguyên cần dòng chảy ổn định, được định giá rõ ràng, có đầu mối hợp đồng và quỹ đất hỗ trợ, thay vì chi phí bị phân tán ở nhiều cấp ngân sách.

Phú Thọ: Nhà máy Trạm Thản – Phú Mỹ và bước chuyển từ dự án môi trường sang hạ tầng trọng điểm
Nếu Bắc Ninh đang xử lý bài toán vận hành các nhà máy đã đi vào hoạt động, thì Phú Thọ đang ở bước quyết định để một dự án trọng điểm sớm vận hành đúng kế hoạch. Nhà máy xử lý rác thải sinh hoạt phát điện tại xã Trạm Thản, Phú Mỹ được triển khai trên diện tích khoảng 15,64ha, chia hai giai đoạn, với công suất giai đoạn I là 500 tấn rác/ngày đêm và giai đoạn II nâng tổng công suất lên 1.000 tấn/ngày đêm. Theo chủ đầu tư, công trình xây dựng và lắp đặt thiết bị đã hoàn thành, nhà máy đang khẩn trương hoàn thiện thủ tục pháp lý để vận hành từ ngày 1/10/2026. Nói cách khác, điểm nghẽn không còn nằm ở công nghệ mà ở chính sách và thủ tục. Đoàn công tác do Bí thư Tỉnh ủy Phạm Đại Dương dẫn đầu đã kiểm tra tiến độ dự án và dành thời gian làm việc trực tiếp với nhà đầu tư để làm rõ bốn nhóm vấn đề: hoàn thiện thủ tục cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho hạ tầng phụ trợ, cấp phép thi công các hạng mục liên quan đến đê điều, đẩy nhanh giải phóng mặt bằng và di dời tái định cư để đủ điều kiện cấp giấy phép môi trường, cũng như thống nhất phương án phân luồng, tiếp nhận rác và cơ chế vận hành thử nghiệm cho nhà máy. Việc một lãnh đạo cấp cao của tỉnh xác định buổi làm việc nhằm "tháo gỡ dứt điểm các vướng mắc, thúc đẩy nhà máy sớm đi vào vận hành theo đúng quy định của pháp luật" là tín hiệu cho thấy nhà máy điện rác đã được đặt ngang hàng với các dự án hạ tầng thiết yếu khác.
Quan trọng hơn, các quyết định đi kèm cho thấy cách tiếp cận lấy người dân làm trung tâm. Về đất đai và thủy lợi, Sở Nông nghiệp và Môi trường được giao khẩn trương hoàn thiện thủ tục. Về giải phóng mặt bằng, trước ngày 15/10, các đơn vị và chính quyền địa phương phải hoàn thành thỏa thuận với hộ dân trong phạm vi an toàn 500m để đủ điều kiện cấp giấy phép môi trường. Trong tuần tới, tỉnh yêu cầu đề xuất phương án kinh phí hỗ trợ hộ dân, bảo đảm phương án tạm cư và tiếp tục hoàn thiện hạ tầng khu tái định cư lâu dài. Đồng thời, các cơ quan tham mưu phải gấp rút hoàn thiện hợp đồng và phụ lục trình UBND tỉnh ký với nhà đầu tư, trong đó rà soát toàn bộ bài toán xử lý rác trên địa bàn để xây dựng cơ chế phân luồng, vận chuyển tối ưu cho từng giai đoạn. Khi phân luồng rác được xem như bài toán toàn tỉnh, nhà máy điện rác không còn "đứng một mình" mà trở thành hạt nhân trong mạng lưới xử lý chất thải rắn và sản xuất năng lượng tái tạo, đảm bảo công suất không bị bỏ trống và rác không bị bỏ quên.
Từ xử lý rác thải sinh hoạt đến bảo vệ môi trường và quyền được hưởng lợi của người dân
Cả Bắc Ninh và Phú Thọ đều đặt lợi ích người dân vào trung tâm khi thúc đẩy nhà máy điện rác vận hành hiệu quả. Tại Bắc Ninh, lãnh đạo tỉnh ghi nhận sự tham gia tích cực của doanh nghiệp trong xử lý rác thải sinh hoạt, coi đó là đóng góp cho bảo vệ môi trường trên địa bàn và nhấn mạnh yêu cầu môi trường xanh, sạch, an toàn để người dân được hưởng lợi. Tại Phú Thọ, dự án Trạm Thản – Phú Mỹ được kỳ vọng "góp phần giảm ô nhiễm môi trường, tạo nguồn điện và phục vụ phát triển kinh tế – xã hội của tỉnh". Khi nhà máy điện rác cung cấp điện từ nguồn năng lượng tái tạo, người dân không chỉ bớt nỗi lo về bãi rác quá tải hay đốt rác tự phát, mà còn hưởng gián tiếp từ nguồn điện bổ sung và môi trường sống cải thiện. Tác động thực tế không nằm ở những khẩu hiệu mà ở việc xử lý rác tồn đọng, chấm dứt cảnh đốt rác tại điểm trung chuyển và bảo đảm rác phát sinh được vận chuyển kịp thời đến nhà máy. Khi các nhà máy ở Bắc Ninh còn hỗ trợ xử lý rác cho khu vực Bắc Giang cũ trong thời gian chờ các nhà máy tại đây hoạt động, người dân thấy rõ vai trò liên vùng của công trình xử lý chất thải rắn. Với dự án Phú Thọ, việc gắn giải phóng mặt bằng với hỗ trợ tạm cư, tái định cư lâu dài cho các hộ dân trong phạm vi an toàn 500m cho thấy chính sách không bỏ lại nhóm bị ảnh hưởng trực tiếp. Đó là bước tiến quan trọng: nhà máy điện rác không thể được coi là thành tựu môi trường nếu cộng đồng quanh nó không được bảo đảm an toàn và sinh kế.

Kết luận: Điện rác chỉ phát huy giá trị khi điểm nghẽn quản trị được giải quyết tận gốc
Nhìn từ Bắc Ninh và Phú Thọ, điều nổi bật không phải là dây chuyền công nghệ hay con số công suất, mà là cách các tỉnh coi việc tháo gỡ vướng mắc và hoàn thiện quản trị là điều kiện tiên quyết để nhà máy điện rác mang lại hiệu quả. Đơn giá xử lý chất thải rắn được xây dựng minh bạch, hợp đồng được ký đúng hạn, quỹ đất xử lý tro bay được bố trí, rác được phân luồng hợp lý và vận chuyển đúng thời gian; đi kèm là bảo vệ quyền lợi người dân qua các phương án hỗ trợ, tạm cư, tái định cư. Những việc này nghe có vẻ kỹ thuật, nhưng lại là phần quyết định để rác trở thành tài nguyên năng lượng tái tạo, chứ không phải gánh nặng môi trường. Cách làm hiện nay cho thấy một nhận thức mới: nhà máy điện rác không chỉ là giải pháp xử lý chất thải rắn sinh hoạt mà là mắt xích của hạ tầng năng lượng sạch và đời sống đô thị. Nếu các tỉnh tiếp tục giữ thái độ chủ động – trực tiếp kiểm tra, lắng nghe doanh nghiệp, đặt thời hạn xử lý vấn đề và gắn trách nhiệm cho từng sở, ngành – thì điện rác sẽ có cơ hội trở thành một phần bền vững của chiến lược phát triển địa phương, thay vì những dự án hàng chục hecta chỉ tồn tại trên giấy. Và người dân sẽ là bên hưởng lợi rõ ràng nhất: môi trường sạch hơn, rác được quản lý tốt hơn, nguồn điện ổn định hơn.






