Đại học thực tiễn: Khi giảng đường gắn chặt với bài toán thành phố
Đại học thực tiễn là mô hình trong đó giảng đường không chỉ truyền đạt lý thuyết mà còn được thiết kế như một phòng thí nghiệm sống, nơi sinh viên, giảng viên và đối tác xã hội cùng giải những bài toán thành phố, từ đào tạo nhân lực đến nghiên cứu công nghệ và tư vấn thể chế, giúp kiến thức hàn lâm chuyển hóa thành giải pháp cụ thể cho phát triển đô thị và thị trường lao động. Các trường đại học Việt Nam đang bước vào giai đoạn chuyển đổi này với thái độ chủ động, coi mình là một tác nhân phát triển chứ không chỉ là nơi cấp bằng. Thay vì đứng ngoài các quyết sách, trường tham gia sâu vào hoạch định chính sách, xây dựng luật, thiết kế chương trình đào tạo bám sát nhu cầu địa phương và doanh nghiệp. Đây không phải xu hướng trang trí, mà là sự dịch chuyển vai trò: từ “dạy để thi” sang “dạy để giải quyết vấn đề”.

Hệ sinh thái đại học gắn thực tiễn: kết nối doanh nghiệp và kỹ năng ứng dụng AI
Nếu muốn sinh viên ra trường làm được việc ngay, đại học phải xây dựng hệ sinh thái thực hành chứ không thể chỉ thêm vài buổi thực tập tượng trưng. Tại một số trường, mô hình này đã rõ nét: họ phát triển đồng thời bệnh viện, nhà thuốc và phòng thực hành lâm sàng để sinh viên khối sức khỏe tiếp cận quy trình chuyên môn, hồ sơ bệnh án và cùng bác sĩ nhận diện vấn đề, ra quyết định lâm sàng ngay từ khi còn ngồi trên ghế nhà trường. Theo một lãnh đạo trường, mạng lưới hơn 500 doanh nghiệp đang đồng hành với các ngành đào tạo, vừa là nơi thực hành, vừa là “bàn tuyển dụng” cho sinh viên sau tốt nghiệp. Song song, AI không chỉ là môn học mà trở thành công cụ hằng ngày: hỗ trợ theo dõi thời khóa biểu, giải đáp khó khăn, đóng vai trò gia sư cá nhân hóa việc học và chỉ ra những kỹ năng còn thiếu trong logbook thực hành của từng sinh viên.

Đào tạo nhân lực cho những lĩnh vực mới: từ trung tâm tài chính đến thể chế đô thị
Khi thành phố đặt ra bài toán thành phố mới như Trung tâm Tài chính Quốc tế Việt Nam, đại học không chờ đến khi dự án hoàn thành mới mở ngành, mà tham gia ngay từ khâu chuẩn bị tri thức và đào tạo nhân lực. Một chương trình hợp tác đã khai giảng khóa 4 về “Tổng quan vận hành và chiến lược tham gia Trung tâm Tài chính Quốc tế Việt Nam”, gồm 9 chuyên đề về mô hình vận hành, khung pháp lý, thị trường vốn, tiền tệ, phái sinh, định chế trung gian và mô hình sàn giao dịch 24/7. Theo TS. Đinh Công Khải, để trung tâm tài chính quốc tế phát triển, đội ngũ nhân lực phải “hiểu đúng, làm đúng và tham gia thực chất vào hệ sinh thái”. Ở một mặt trận khác, trường luật được mời vào bàn xây dựng thể chế, góp ý văn bản quy phạm pháp luật, đánh giá tác động chính sách và tham vấn nhanh các tình huống pháp lý phát sinh trong quá trình tháo gỡ vướng mắc đô thị.

Đặt nguồn lực tri thức vào chiến lược phát triển đô thị
Điểm đáng chú ý là nhiều địa phương không còn coi trường đại học như “đơn vị tư vấn phụ” mà là đối tác chiến lược. Một chương trình hợp tác giữa thành phố lớn và một đại học quốc gia đã xác định 16 nội dung phối hợp: từ đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao trong các lĩnh vực công nghệ chiến lược, đến nghiên cứu, phản biện chiến lược phát triển kinh tế – xã hội và thực hiện các nhiệm vụ khoa học, công nghệ trọng điểm. Giai đoạn 2022–2025, hai bên đã triển khai 45 nhiệm vụ trọng tâm với 54 nội dung cụ thể, tập trung vào phát triển hạ tầng, đào tạo nhân lực và hoàn thiện cơ chế, chính sách. Theo định hướng khoa học và đổi mới sáng tạo giai đoạn 2026–2030, mục tiêu không dừng ở công bố kết quả nghiên cứu mà là kiến tạo giải pháp, công nghệ và mô hình phát triển mới, góp phần giải quyết những bài toán thành phố về kinh tế – xã hội ở quy mô vùng và cả nước.
Kết luận: Đại học chỉ còn hai lựa chọn
Nhìn vào những chuyển động này, có thể nói thẳng: đại học Việt Nam chỉ còn hai lựa chọn – hoặc trở thành đại học thực tiễn gắn với bài toán thành phố, hoặc bị bỏ lại phía sau bởi thị trường lao động và yêu cầu đổi mới thể chế. Việc xây dựng hệ sinh thái đào tạo gắn thực hành, kết nối doanh nghiệp, đưa AI vào quá trình học và tham gia trực tiếp vào xây dựng luật, chiến lược phát triển đô thị cho thấy một mô hình mới đang hình thành. Nhưng để mô hình này không dừng ở vài điểm sáng, cần thêm ba thứ: sự cam kết dài hạn của chính quyền trong việc đặt hàng tri thức; sự dũng cảm của trường trong việc sửa chương trình, đánh giá lại năng lực giảng viên; và tiếng nói phản biện của sinh viên, doanh nghiệp để đảm bảo mọi đổi mới đều đo được bằng chất lượng đào tạo nhân lực và khả năng giải bài toán thành phố.







