Thuế quan Mỹ tăng nhưng đơn hàng Việt vẫn đi lên: nghịch lý hay chiến lược?
Thuế quan Mỹ Việt Nam trong giai đoạn mới là tình huống các doanh nghiệp xuất khẩu phải vừa đối mặt rủi ro chính sách, vừa tận dụng cơ hội từ sự dịch chuyển chuỗi cung ứng toàn cầu, bằng cách đa dạng hóa khách hàng, tối ưu sản xuất và chủ động kiểm soát nguồn nguyên liệu để giữ ổn định tăng trưởng xuất khẩu bất chấp sức ép thuế và lạm phát quốc tế. Điểm đáng chú ý là dù Mỹ bắt đầu áp dụng các mức thuế mới theo Điều 301, đơn hàng từ thị trường này chưa có dấu hiệu suy giảm, thậm chí tăng thêm. Điều này không phải ngẫu nhiên, mà phản ánh cách doanh nghiệp Việt Nam lựa chọn thay đổi: không phụ thuộc vào vài nhà nhập khẩu lớn, mà mở rộng sang "làn sóng" khách hàng nhỏ Mỹ, đồng thời bám sát biến động giá dầu và chính sách thương mại để điều chỉnh chuỗi cung ứng. Xuất khẩu dệt may, thủy sản, gỗ… đang bước vào giai đoạn mà năng lực thích ứng quan trọng không kém năng lực sản xuất.

Làn sóng khách hàng nhỏ Mỹ: cơ hội mới cho hàng Việt
Trong bối cảnh thuế quan Mỹ siết chặt, xu hướng nổi bật nhất là sự bùng lên của nhóm khách hàng nhỏ Mỹ tìm đến hàng Việt. Nếu trước đây, một đơn hàng tối thiểu thường ở mức một container, thì hiện nay xuất hiện ngày càng nhiều đơn hàng chỉ khoảng một tấn cà phê, vài trăm đến vài nghìn chiếc áo hoặc vài nghìn bao bì. Đây là bằng chứng cho thấy doanh nghiệp Việt đã dịch chuyển từ mô hình phụ thuộc nhà buôn quốc tế lớn sang phục vụ cả cá nhân, doanh nghiệp nhỏ và các chuỗi cửa hàng theo mô hình B2C. "Ông Nguyễn Tuấn Việt dự kiến đến cuối năm, số lượng đơn hàng nhỏ có thể tương đương với các đơn hàng lớn". Chiến lược này thông minh vì tệp khách hàng nhỏ rất rộng, giúp trải đều rủi ro thuế quan và giảm lệ thuộc vào vài hợp đồng FOB lớn dễ bị yêu cầu chia sẻ chi phí thuế. Trong môi trường chính sách khó đoán, chia nhỏ rủi ro là cách phòng thủ hiệu quả hơn là chờ ưu đãi thuế.

Dệt may: sống trong bóng giá dầu và chính sách thương mại Mỹ
Ngành xuất khẩu dệt may không thể lạc quan quá sớm. Đà tăng của hàng may mặc và sợi đang có, nhưng tương lai vài tháng tới vẫn treo lơ lửng trên hai biến số: giá dầu và chính sách thương mại Mỹ. Theo đánh giá, triển vọng ngành dệt may trong những tháng cuối năm tiếp tục phụ thuộc lớn vào diễn biến giá dầu và chính sách thương mại của Mỹ. Khi giá năng lượng hạ, áp lực lạm phát giảm, sức mua có thể cải thiện; nhưng mỗi lần Mỹ điều chỉnh thuế theo Điều 301, chi phí lại đội lên, nhu cầu có nguy cơ chậm lại. Điểm đáng bàn là Mỹ sử dụng thuế quan không chỉ để bảo vệ sản xuất mà còn để siết nguồn nguyên liệu có nghi vấn lao động cưỡng bức, đặc biệt với sản phẩm dệt may. Vì vậy, doanh nghiệp nào không nhanh chóng chuyển sang bông và vải có nguồn gốc rõ ràng, trong đó có bông Mỹ, sẽ tự đặt mình vào vùng rủi ro thuế cao. Câu chuyện thuế vì thế trở thành câu chuyện đạo đức chuỗi cung ứng, không chỉ là chuyện chi phí.

Tối ưu chuỗi cung ứng để giữ đơn hàng trong quý IV bão thuế
Ảnh hưởng của thuế bổ sung theo Điều 301 được dự báo sẽ rõ nét hơn từ tháng 8 và tập trung vào quý IV, khi các hợp đồng mới bắt đầu được ký và thực hiện. Nhà nhập khẩu Mỹ đã chỉ dấu sớm: họ muốn giảm giá FOB, yêu cầu doanh nghiệp Việt chia sẻ chi phí thuế và có xu hướng ký hợp đồng ngắn hạn để giảm rủi ro. Trong thế cờ đó, ai kiểm soát tốt chuỗi cung ứng sẽ ít bị ép giá hơn. Về dài hạn, triển vọng tích cực với xuất khẩu dệt may đến từ xu hướng đa dạng hóa chuỗi cung ứng và dịch chuyển sản xuất khỏi Trung Quốc. Năng lực sản xuất, khả năng đáp ứng đơn hàng, chất lượng sản phẩm cùng vị thế ngày càng sâu trong chuỗi cung ứng toàn cầu là lợi thế của doanh nghiệp Việt. Nhưng lợi thế này chỉ giữ được nếu doanh nghiệp coi thuế quan là yếu tố dài hạn để chủ động điều chỉnh chiến lược đầu tư, thị trường và chuỗi cung ứng, thay vì phản ứng bị động mỗi lần chính sách thay đổi.

Đa dạng hóa khách hàng để hóa giải rủi ro thuế quan
Điểm tích cực nhất trong câu chuyện thuế quan Mỹ Việt Nam hiện nay là doanh nghiệp đã bắt đầu hiểu rằng đa dạng hóa khách hàng quan trọng không kém đa dạng hóa thị trường. Khi đơn hàng nhỏ tăng, doanh nghiệp có nhiều nguồn doanh thu hơn, không bị một vài nhà nhập khẩu gây áp lực giá quá lớn, nhất là trong các ngành dễ tổn thương như dệt may, da giày, thủy sản. "Doanh nghiệp Việt Nam khó tránh khỏi việc phải chia sẻ một phần chi phí thuế với các nhà nhập khẩu, đồng thời chịu áp lực lớn hơn trong cạnh tranh về giá và đơn hàng". Chiến lược khôn ngoan lúc này là chủ động minh bạch nguồn nguyên liệu, tối ưu chuỗi cung ứng để giảm chi phí nội tại, đồng thời nuôi dưỡng tệp khách hàng nhỏ Mỹ thông qua chất lượng ổn định và khả năng giao hàng linh hoạt. Khi thuế còn biến động và chính sách chưa ổn định, ai phân tán được rủi ro và kiểm soát tốt chuỗi cung ứng sẽ là người sống khỏe, không chỉ tại Mỹ mà trên toàn thị trường xuất khẩu.





